Ngôn ngữ: Vietnamese | English
Giới thiệu Hệ Sinh thái VAC

Từ xưa tới nay VAC luôn giữ vai trò quan trọng cuộc sống gia đình và xã hội. Những năm gần đây, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật được ứng dụng cùng với sự sáng tạo của nhân dân, VAC càng ngày càng được phát triển hoàn thiện với rất nhiều hình thứ đa dạng, phong phú. Chúng ta đã từng biết đến tầm quan trọng và giá trị của VAC ngoài mang lại lợi ích kinh tế, cải tạo môi trường, tạo công ăn việc làm... thì VAC còn là nguồn cung cấp thực phẩm sạch, tại chỗ, đa dạng cho bữa ăn hàng này như: rau, củ, quả, thịt, trứng, sữa và thủy sản.

* VAC là chữ viết tắt của Vườn, Ao và  Chuồng chăn nuôi.

- Vườn (V) là bao gồm tất cả canh tác trên cạn, vườn rau, quả quanh nhà, vườn đồi, vườn rừng và kể cả vườn treo theo kiểu "canh tác không đất" ở thành phố.

- Ao (A) là bao gồm tất cả chăn nuôi dưới nước: cá, tôm, cua, ốc, ếch, lươn, ba ba...

- Chuồng chăn nuôi (C) là bao gồm tất cả chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò, ngựa...); tiểu gia súc: lợn, dê, cừu; gia cầm: vịt, gà, ngan, ngỗng.

Hệ sinh thái VAC dựa trên cơ sở khoa học tái sinh, quan hệ hữu cơ của việc tái sinh vật thải: Ao ngoài việc chăn nuôi thuỷ sản còn là nguồn cung cấp nước tưới cho các loại cây  trồng và chăn nuôi; chăn nuôi ngoài việc cung cấp sản phẩm thịt còn là nguồn cung cấp vật thải (phân ủ các loại) cho phát triển vườn và thuỷ sản; và vườn cung cấp thức ăn cho người, thức ăn cho chăn nuôi và thuỷ sản. Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại với tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá, hệ sinh thái khép kín có đủ cả 3 yếu tố vườn rau quả, ao cá và chăn nuôi cùng nhau ở trên cùng diện tích đất đai hoặc nơi cư trú càng ngày càng ít đi. Cho nên việc hiểu về bản chất thực tế của VAC cũng cần phải có cách nhìn mới nghĩa là có AC, VA hoặc CV cùng với con người cũng đều có thể là hệ sinh thái VAC.

Các nhà khoa học đã tính toán nhu cầu dinh dưỡng, mức tiêu thụ lương thực phẩm và lượng lương thực thực phẩm tương đương cần phải sản xuất hàng năm. Ví dụ khi tính mức ăn bình quân 2100 KCalo/ngày của 1 người trong 1 tháng: về rau xanh là 9kg, quả chín 1,2kg, cá là 1,2kg, thịt là 0,75kg và trứng là 0,15kg. Nếu gia đình có 5 người thì 1 năm phải cần số lượng thực phẩm là 540kg rau xanh, 72kg quả chín, 72kg cá, 45kg thịt và 9kg trứng.

Qua tính toán thấy rằng để đảm bảo số lượng thực phẩm riêng cho ăn uống ở hộ gia đình 5 khẩu chỉ cần 20 - 25m2 đất trồng rau, 7-10 cây ăn quả, (nên là cây chuối và cây đu đủ vì hai loại cây này cho thu hoạch quanh năm, có thể ăn quả chín hoặc sử dụng như là rau khi mà quả còn xanh, hơn nũa yêu cầu kỹ thuật về đất đai và trồng trọt đơn giản); có 7 - 10 gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng) để lấy trứng và thịt và nếu có điều kiện có thêm 20m2 ao cá là có thể đảm bảo về nhu cầu về thực phẩm hàng năm (chưa kể gạo). Tuy nhiên, để có đủ rau xanh quanh năm, cần phải bố trí sắp xếp trồng xen kẽ, trồng gối vụ giữa các loại rau ở các mùa vụ trong năm. Chú ý rau phải là rau sạch, an toàn, không nên dùng thuốc trừ sâu vô cơ, ít hoặc không nên dùng phân hoá học, không bón phân tươi; Về chăn nuôi gia súc gia cầm chú ý tiêm phòng đầy đủ, không nên sử dụng thức ăn bán sẵn ngoài thị trường không rõ nguồn gốc; Về chăn nuôi cá, nên thả nhiều loại cá, tận dụng các tầng nước, có tốc độ phát triển, sinh sản nhanh để thường xuyên có cá cho bữa ăn.

Những hộ đất đai hạn chế nên áp dụng các hình thức và kỹ thuật sản xuất tiết kiện đất như sử dụng giàn leo. Ví dụ chỉ cần 10m2 giàn leo có màu xanh quanh năm, cho sản phẩm quanh năm: Mùa xuân trồng bầu, bí, mướp, kế tiếp đó là su su, đậu ván, thiên lý... Nên tận dụng bờ rào quanh nhà, quanh vườn, đường đi vào nhà trồng rau ngót, các loại đậu leo: đậu co-ve, đậu đũa, mồng tơi... Canh tác theo chiều cao cũng là một hình thức sản xuất truyền thống của nhân dân ta ở vùng đất hẹp. Trên ao cá ta làm giàn leo để trồng các cây rau quả, xung quanh bờ ao là cây ăn quả, dưới cây ăn quả là các loại cây gia vị, trên mặt ao thả rau muống, rau rút, rau ngổ... Có thể làm chuồng chăn nuôi (gà, vịt) và trên mặt ao ta có thể làm giàn leo (bầu, bí, mướp...). Như vậy ta có 5 - 7 tầng thực phẩm.

1. Các nhóm cây trong vườn gia đình

Trong vườn gia đình ở nhiều vùng trong nước có hàng trăm giống cây khác nhau được trồng với mục đích kinh tế. Có thể xếp thành các nhóm sau đây:

Cây lấy gỗ: Xoan, bạch đàn, phi lao, mỡ, thông, bồ đề, keo lá tràm...

Cây ăn quả: Chuối, xoài, mít, cam, dừa, chanh, bưởi, vải, nhãn....

Cây lấy củ (lương thực): Sắn, khoai, từ, dong riềng, sắn giây, củ mỡ...

Rau xanh: Rau muống, ràu dền, bí, bầu, mướp, rau ngót, cà chua...

Cây gia vị: Ớt, tỏi, hành, tiêu, gừng, húng, xả...

Cây thuốc nam: Xuyên tâm liên, đinh lăng, gừng, nghệ, bạc hà, hẹ...

Cây công nghiệp: Lạc, đỗ tương, dừa, hồ tiêu, cà phê, ca cao....

Nhóm cây đan lát: Song, mây, tre, buông, cọ...

Hoa và cây cảnh: Hoa huệ, hoa giấy, hoa loa kèn, thược dược...

Cây ăn quả chiếm ưu thế trong cơ cấu vường gia đình ở các vùng sinh thái của nước ta: chuối, mít, dừa, xoài, ổi, hồng xiêm, cam, quýt... Nhiều nơi thu thập về cây ăn quả chiếm tỷ lệ cao trong tổng thu nhập hàng năm của vườn.

2. Kỹ thuật thâm canh cây ăn quả trong vườn

2.1. Chọn giống tốt:

* Yêu cầu: Đảm bảo đúng giống, cây giống khoẻ, sạch bệnh, nhất là không mang bệnh virut), phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai ở địa phương phù hợp với yêu cầu kinh tế của vùng, có khả năng cho nhiều vụ quả trong năm ngoài vụ chính.

2.2. Đất trồng và kỹ thuật làm đất:

- Đất trồng là môi trường sống của cây, nó quyết định đến sự sinh trưởng, năng suất, phẩm chất, tuổi thọ và nhiệm kỳ kinh tế của cây. Cần chú ý chọn đất và bố trí cây trồng thích hợp. Mỗi giống cây ăn quả có yêu cầu riêng về tầng dày, lý tính  và hoá tính đất, độ pH khác nhau.

- Kỹ thuật làm đất:

Yêu cầu chung: làm đất tơi xốp, bằng phẳng, sạch cỏ dại

+ Vùng đồi: Chú ý bảo vệ đất, chống xói mòn, thiết kế các lô trồng theo đường đồng mực, làm ruọng bậc thang, chú ý trồng cây phân xanh phủ đất, giữ ẩm cho cây và cải tạo đất.

+ Vùng đồng bằng: Mực nước ngầm cao nhất là trong mùa mưa, hạ thấp mực nước ngầm bằng cách xây dựng hệ thống tiêu nước, vượt đất làm luống cao hoặc đắp nấm để trồng cây lên đó.

2.3. Chọn thời vụ trồng thích hợp:

Các tỉnh Miền Bắc: Vụ xuân tháng 2-3

Vụ thu tháng 8-10

Miền Nam: Tây Nguyên: Đầu mùa mưa: Tháng 4-5

2.4. Mật độ khoảng cách trồng thích hợp:

Tuỳ theo đặc điểm của giống, điều kiện đất đai (độ phì, địa thế đất, khả năng tưới nước, cung cấp phân bón...) để bố trí mật độ khoảng cách thích hợp.

Ví dụ:

Với chuối 3 x 1,7m                                 2,5 x 2m

Cam quýt 6 x 4m                   5 x 4m   hoặc 4 x 4m

Hồng xiêm 8 x 8m                                 8 x 7m                   7 x 7m

Chú ý trồng dặm, bảo đảm đủ số cây trong vườn và trồng xen, trồng gối với các loại cây ngắn ngày khác khi cây chưa giao tán. Có thể căn cứ vào yêu cầu về ánh sáng khác nhau: tầng nhô, tầng cao, tầng giữa, tầng thấp, tầng mặt để lợi dụng tối đa năng lượng ánh sáng mặt trời.

2.5. Bón phân cho cây ăn quả:

- Chú ý liều lượng thích hợp, cân đối.

- Thời kỳ bón phù hợp với yêu cầu sinh lý của cây

- Cách bón thích hợp.

- Chú ý phối hợp giữa phân hữu cơ với phân vô cơ, phân đa lượng với phân vi lượng - nhất là phân vi lượng với phẩn chất quả.

- Chú ý khai thác nguồn phân sẵn có tai chỗ như  như phân chuồng, bùn ao, phân xanh các loại để bón cho cây.

2.6. Nước cho cây ăn quả:

Chú ý thoát nước cho vườn trong mùa mưa vì một số cây ăn quả như cam, quýt, chuối, ... nếu đọng nước sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất của cây.

Nhưng nếu vùng đồi, vùng đất cát ven biển lại phải giữ nước, chống hạn cho cây trong mùa khô, có thể dùng các biện pháp:

- Chọn giống, gốc ghép chịu hạn

- Khai phá lập vườn đúng quy trình

- Cầy sâu giữ nước trong khi làm đất à sau cá đợt mưa cuối cùng trong năm

- Tủ gốc và tưới nước khi cần thiết.

2.7. Trồng xen:

Có tác dụng phủ đất, chống cỏ dại, chống xói mòn, điều hoà nhiệt độ đất, giữ ẩm, tăng nguồn hữu cơ cải tạo đất, tăng thêm thu nhập cho vườn. Có thể là cây ăn quả, rau, và các loại cây công nghiệp ngắn ngày. Phải biết chọn cây trồng xen thích hợp, không làm ảnh hưởng đến cây trồng chính trong vườn.

2.8. Tạo hình và cắt tỉa:

a. Tạo hình:

- Mục đích:

+ Sớm hình thành tán để cây sớm cho quả

+ Có một bộ khung cảnh vững chắc và độ cao thích hợp, tán rộng thoáng. Chú ý chống báo cho cây bằng cách tạo tán thấp.

+ Dễ chăm sóc và thu hoạch

Công việc này làm khi cây còn nhỏ ở vườn ươm và trồng trong vườn những năm đầu.

b. Cắt tỉa:

- Mục đích:

+ Điều hoà dinh dưỡng hợp lý, hạn chế sự phát triển của sâu bệnh, yêu cầu đạt được: Làm cho cây thông thoáng, cắt bỏ các cành tăm, cành bị sâu bệnh, cành mọc lộn xộn trong tán cây, cành la, cành tược. Chú ý cắt tỉa sau khi thu hoạch quả.

2.9. Phòng trừ sâu bệnh hại:

- Để ngăn ngừa sâu bệnh hại cây ăn quả trong vườn cần chú ý:

+ Kiểm dịch: Không cho mang đi từ vùng này qua vùng khác những cây giống có mầm mống bệnh.

+ Chọn giống và gốc ghép giống chống chịu bệnh

+ Biện pháp canh tác: cắt tỉa hợp lý, phòng trừ cỏ dại, vệ sinh đồng ruộng, xử lý giống trước lúc đem trồng.

+ Biện pháp hoá học: Phải cẩn thận, vì vườn cây gần nhà, tránh ô nhiễm môi trường và làm nhiễm bẩn nước đất có hại cho sức khoẻ của người và gia súc.

2.10. Vấn đề thu hoạch:

Cần thu hoạch đúng thời vụ để đảm bảo năng suất và phẩm chất, tránh những tổn thất sau thu hoạch. Cần căn cứ vào đặc điểm của giống, yêu cầu sử dụng của thị trường gần hoặc xa để thu hái quả cho phù hợp.

Khi hái quả nên dùng kéo để cắt, tránh các vết xây xát. Thu hái xong không nên để chất đống, mà xếp lớp mỏng, để vào chỗ thoáng mát, nếu phải đưa đi xa thì phải bao gói bằng các loại giấy bản hay giấy mỏng.

3. Kỹ thuật nhân giống cây ăn quả:

* Ý nghĩa:

- Trong vườn gia đình ở nhiều vùng trong nước có những cây giống tốt, muốn có nhiều cây con của giống tốt này cần phải hiểu biết đặc tính sinh vật của chúng để có những kỹ thuật nhân giống thích hợp.

- Trong phong trào VAC, nhiều người muốn sản xuất cây giống để kinh doanh, làm thế nào để có nhiều cây giống, và con giống tốt được tín nhiệm trong sản xuất... Chủ vườn bắt buộc phải có kiến thức và trình độ thực hành nhất định để sản xuất cây con.

- Có vườn nhân giống tốt mới có nhiều cây con tốt và mới mở rộng được diện tích trồng cây ăn quả trong các vùng.

* Các phương pháp nhân giống:

3.1. Gieo hạt:

a. Ưu điểm:

- Có bộ rễ khoẻ, cây sinh trưởng khoẻ

- Hệ số nhân giống cao, có nhiều cây giống

- Nếu biết chọn lọc thật tốt cũng sẽ có cây tốt.

b. Nhược điểm:

- Lâu có quả, thường phải 4 - 5 năm hay lâu hơn

- Khó giữ được các đặc tính tốt của cây mẹ ban đầu. Các cây con mọt từ hạt sinh trưởng ra hoa kết quả năng suất phẩm chất quả không giống nhau.

Do các nhược điểm trên ngày nay người ta thường chỉ nhân giống bằng hạt trong trường hợp những giống chưa có phương pháp sản xuất giống tốt hơn, hay gieo hạt dùng làm gốc ghép.

3.2. Chiết cành:

a. Ưu điểm:

- Sớm cho hiệu quả

- Giữ được các đặt tính tốt của cây mẹ

- Chóng có cây giống để đem đi trồng (sau 3 đến 5 tháng tuỳ giống)

b. Nhược điểm:

- Chiết nhiều cành sẽ có hại cho cây mẹ

- Hệ thống không cao nên không thể có nhiều cây con để cung cấp cho sản xuất. Để khắc phục một phần nhược điểm này người ta dùng phương pháp chiết cành nhỏ

c. Những biện pháp kỹ thuật để nâng cao tỷ lệ ra rễ của cành chiết và chất lượng cành chiết tốt.

- Chọn giống, chọn cây, chọn cành chiết tốt

- Chọn đúng thời vụ (thích hợp cho từng giống) để chiết

- Công tác chuẩn bị: Nguyên liệu để bó bầu; giấy PE, lạt buột... phải chuẩn bị đầy đủ và biết thao tác tốt.

- Biết chọn chất kích thích sinh trưởng cho từng giống cây ăn quả và có nồng độ thích hợp 2 - 4D, NAA, IBA, GA.

3.3 Giâm cành:

Phương pháp sử dụng những đoạn cành, đặt những đoạn cành đó trong những điều kiện thích hợp khiến nó ra rễ, nảy chồi tạo thành một cá thể hoàn chỉnh có khả năng sống độc lập.

a. Ưu điểm:

- Có nhiều cây con một lúc mà không ảnh hưởng nhiều đến cây mẹ.

- Giữ được các đặt tính tốt của cây mẹ

- Cây sớm ra hoa có quả, chất lượng vườn cây đồng đều

b. Nhược điểm ;

- Đòi hỏi kỹ thuật phức tạp

- Phải có một thời gian chăm sóc tiếp sau khi ra rễ mới đem đi trồng được

c. Những biện pháp kỹ thuật cần chú ý khi nghiên cứu và sản xuất giống cây bằng kỹ thuật giâm cành:

- Chất lượng của cành giâm (yếu tố nội sinh). Xác định cho được các chỉ tiêu có liên quan sau đây:

+ Tuổi cành giâm

+ Vị trí đoạn cành giâm trên cành.

+ Chiều dài cành giâm

+ Lá và số lá để lại khi đem đoạn cành giâm vào giâm

- Yếu tố ngoại cảnh (môi trường giâm cành)

+ Nền đất giâm

+ Nhiệt độ đất, nhiệt độ không khí trong nhà giâm cành

+ ẩm độ đất, ẩm độ không khí trong nhà giâm

+ ánh sáng trong nhà giâm: thường thì yêu cầu ánh sáng tán xa.

- Thời vụ giâm cành: Quyết định đến khả năng và tỷ lệ ra rễ của cành giâm.

- Sử dụng các chất kích thích sinh trưởng đối với cành giâm: 2,4D, NAA, IBA, GA...

3.4. Ghép cây:

Đây là phương pháp nhân giống cây ăn quả có nhiều ưu điểm và được dùng phổ biến nhất hiện nay có nhiều giống cây ăn quả.

a. Ưu điểm:

- Cây ghép sinh trưởng tốt nhờ bộ rễ của gốc ghép.

- Cây giữ được các đặc tính tốt của cây mẹ

- Sớm ra hoa kết quả

- Hệ số nhân giống cao, tốc độ mở rộng diện tích nhanh mà không ảnh hưởng đến sức khoẻ của cây mẹ

- Nâng cao được sức sống chịu của giống trên cơ sở chọn được gốc ghép thích hợp

- Duy trì được nòi giống đối với những giống không có hạt, chiết giâm cành khó ra rễ.

Tuy có những ưu điểm kể trên nhưng khi ghép nếu không chú ý chọn những gốc ghép và mắt ghép sạch bệnh nhất là bệnh virut thì cây con giống sẽ bị lây truyền bệnh.

b. Để có những cây ghép tốt cần chú ý một số điểm sau:

- Chọn cây giống, chọn cành, chọn mắt ghép

- Chọn cây gốc ghép phù hợp với mắt ghép và cành ghép.

- Xác định thời vụ ghép cho từng giống trong từng địa phương. Thông thường vụ Xuân vào tháng 3 - 4, vụ Thu tháng 8 - 9.

- Có 2 phương pháp ghéo với nhiều kiểu ghép khác nhau:

+ Ghép mắt: Chữ T, cửa sổ, H...

+ Ghép cành: Ghép áp, nêm, chẻ bên , áp vỏ, yên ngựa...

+ Ghép mắt nhỏ có gỗ.

- Quản lý và chăm sóc cây sau khi ghép

+ Kiểm tra sau khi ghép một tuần

+ Mở giây

+ Cắt ngọn gốc ghép

+ Vặt bỏ các mầm phụ ở gốc

+ Bón phân thúc

+ Trừ cỏ dại, phòng trừ sâu bệnh

+ Tạo hình cho cây ghép ở vườn ươm

3.5. Tách chồi:

Phương pháp này chỉ áp dụng đối với những giống cây ăn quả không có hạt, không chiết, giâm cành hoặc ghép được như chuối, dứa.

Với dứa có thể dùng các loại chồi như chồi ngọn, chồi cuống, chồi thân, chồi ngâm để nhân giống nhưng tốt hơn cả là dùng chồi thân.

Với chuối chỉ lấy những cây con hình búp măng, không đùng các loại cây con lá to thân bé.

4. Rau trong vườn và ô dinh dưỡng

a. Giá trị dinh dưỡng và vai trò của rau trong đời sống:

Rau là loại thực phẩm không thể thiếu được trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân ta. Rau cung cấp cho con người nhiều loại vitamin: tiền vitamin A (caroten), Vit. C, các loại vitamin B1, B2, PP, E, K... Ngoài ra còn có các chất khoáng như Ca, P, Fe, S, Mg, K trong rau gia vị còn có các chất kháng sinh (phytenxit), các axit hữu cơ, các chất thơm, một số đầu rau còn có protein..., nhưng rau cung cấp chủ yếu là nguồn vitamin mà các loại thực phẩm khoáng có trong các loại rau cũng cần cho sự phát triển của cơ thể.

Nhiều loại rau có tác dụng chữa bệnh và rất cần cho người bệnh, người gia và trẻ em. Ca dao ta có câu: "Cơm không như đau không thuốc". Những vùng bão lụt, thiên tai nặng gieo trồng rau ngắn ngày có tác dụng chống đói, góp phần cải thiện đời sống và sức khoẻ cho nhân dân.

Trong cơ chế thị trường hiện nay, rau là nguồn nông sản hàng hoá, ngoài việc giải quyết bữa ăn hàng ngày, còn là nguyên liệu chế biến cho công nghiệp và để xuất khẩu, nhất là các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ có một mùa đông lạnh rất thuận lợi cho các loại rau ôn đới phát triển, trong khi đó có các nước lân cận trong vùng không có điều kiện trồng. Đó cũng là một lợi thế của ta để xuất khẩu.

b. Giải quyết rau ăn cho gia đình - ô dinh dưỡng

Để đảm bảo đủ rau ăn trong gia đình và chất lượng rau ăn ngày càng căo nắm vững các nguyên tắc sau:

-     Bảo đảm bảo đủ rau ăn trong gia đình, bình quân mỗi ngày mỗi người 200 - 250g, vào vụ giáp hạt rau có thể ít hơn do đó phải tính toán bố trí cơ cấu luân canh trồng xen, trồng gối các mùa vụ trong năm sao cho đủ rau ăn.

-    Trên cơ sở đủ rau ăn phải chú ý nâng cao chất lượng rau, phối hợp giữa rau ăn lá với rau ăn thân, củ, quả, hạt, hoa. Chú ý những rau có chất lượng cao (rau cao cấp) như cà chua, cải bắp, súp lơ, cà rốt, su hào, khoai tây, dưa chuột, các loại đậu. Rau của ta có nhiều và rất đa dạng, có đến 40 - 50 chủng loại, có những giống có nguồn gốc bản địa như rau muống, rau dền, các loại cà, bầu bí, mướp, ớt, hành, tỏi.... Có những giống nhập được trồng từ lâu đời ở nước ta và đã thích với điều kiện khí hậu đất đai của ta như cà chua, dưa chuột, cà rốt, khoai tây, cải bắt....

-     Trong diện tích đất ở vườn của mỗi gia đình lợi dụng tối đa không gian nhiều chiều như: chiều rộng, chiều ngang, chiều dài, chiều sâu để tận dụng tối đa năng lượng mặt trời của vùng nhiệt đới. Có thể trồng trên luống, leo trên giàn, trồng ở mép ao, thả bè để tranh thủ đất trồng được nhiều vụ trong năm, có thể trồng xen trồng gối.

-      Hiểu biết tập tính sinh học và yêu cầu ngoại cảnh của từng loại rau, quả để bố trí mùa vụ thích hợp.

+      Loại rau có thể trồng được nhiều tháng trong năm như các loại rau ăn lá: rau muống, rau dền, rau mồng tơi, rau ngót, các loại cải, một số loại rau gia vị.

+      Rau vụ đông xuân: cải bắp, cà chua, khoai tây, su hào, súp lơ, cà rốt, hành tây, dưa chuột, sà lách...

+      Rau trồng vụ xuân hè: bầu bí, mướp, rau muống, rau ngót, các loại dưa, các loại cà, đầu đũa.

+      Cùng là đậu rau nhưng tập tính sinh trưởng và khả năng thích nghi có khác nhau: đậu đũa chịu được nhiệt độ cao, trồng vụ thu đông có đậu cô bơ, cô ve, đậu bỡ, đậu trạch lại thích mát, nhiệt độ hơi thấp, yêu cầu nhiệt độ thấp hơn có đậu ván, đậu Hà Lan.

+      Sử dụng một số giống rau có thời gian sinh trưởng nhanh có thể thu hoạch sớm để giải quyết giáp vụ rau như các loại cải, củ cải, thời gian sinh trưởng 35 - 55 ngày, trong các tháng nóng từ 7 - 15 ngày cho thu hoạch một lứa hoặc trồng bí đỏ để lấy lá, lấy hoa làm rau ăn cũng là món rau được nhiều người ưa chuộng.

-     Tận dụng hết các nguồn thực phẩm và khả năng sẵn có để bổ sung thêm vào chủng loại rau ăn thêm phong phú. Ví dụ:

+      Chuối: quả xanh và bắp chuối, thân chuối non

+      Dứa quả để nấu canh, xào, nấu canh.

+      Dưa hấu tỉa quả còn non (gọi là dưa hồng) muối chua

+      Khế chua: nấu canh, làm rau sống

+      Trám trắng, trám đen, quả cây cọ (miền Trung)

+      Dừa: cơm dừa

+      Mít non: Luộc, làm nộm, nấu canh

+      Măng, mộc nhĩ, các loại nấm

+      Khoai sọ, củ mỡ củ đậu

+      Giá đỗ: nguyên liệu phổ biến dùng đậu xanh, ở miền trung dùng đậu đỏ.

+      Ngó sen...

-      Biết dự trữ chế biến để khi giáp vụ, thiếu rau thì đem ra dùng.

+      Bảo quản bí ngô, bí xanh

+      Muối cà, muối dưa, làm tương cà chua, bột cà chua, sấy khô su hào, bầu.

-      Biết kỹ thuật gieo trồng, chăm bón, thâm canh rau và chủ động để được giống cho vụ sau.

 

Định hướng hoạt động của Dự án cải thiện tình trạng dịnh dưỡng trẻ em tỉnh Kon Tum giai đoạn 2013-2016
Kết quả điều tra 30 cụm về dinh dưỡng hàng năm của Viện Dinh dưỡng cho thấy: Kiến thức của các bà mẹ về dinh dưỡng gia đình ngày càng được nâng lên, việc thực hiện cân đối giữa 4 nhóm thức ăn ngày càng được áp dụng rộng rãi trong cộng đồng.
Chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ bệnh
Khi bị nhiễm khuẩn, trẻ cần nhiều năng lượng và chất dinh dưỡng để giúp cơ thể chống lại bệnh tật. Nếu trẻ không được cung cấp thêm dinh dưỡng thì trẻ sẽ giảm cân, gày yếu và chậm lớn.
Thiếu Kẽm ở bà mẹ và trẻ em
Kẽm là vi chất dinh dưỡng có đặc tính sinh học rõ rệt. Lượng kẽm trong cơ thể khoảng 2-3g, phân phối không đồng đều, nhiều ở tinh hoàn (300mcg/g). Sau đó là ở tóc (150mcg/g), xương (100mcg/g), gan, thận, cơ vân, da, não. Kẽm có đặc điểm không dự trữ trong cơ thể, có nửa đời sống sinh học ngắn (12,5 ngày) trong các cơ quan nội tạng, nên dễ bị thiếu nếu khẩu phần cung cấp không đủ.
Vitamin A và tẩy giun
Tác dụng của việc kết hợp bổ sung Vitamin A và tẩy giun: Tăng sức đề kháng, tăng cường khả năng phòng chống bệnh tật cho trẻ. Tăng cường khả năng hấp thu thức ăn, giúp trẻ lớn nhanh. Giúp trẻ phát triển trí lực toàn diện.
Giun và tẩy giun
Một số loại giun thường gặp ký sinh tại đường ruột ở người là giun đũa, giun tóc, giun móc, giun kim. Đường lây truyền nhiễm giun. Chủ yếu nhiễm giun qua đường. Phân – Miệng. Giun móc (mỏ) xâm nhiễm qua da.
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và theo dõi tăng trưởng
Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc vấn đề về dinh dưỡng.
Thiếu vitamin D ở trẻ em
Vitamin D đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên cấu trúc xương thông qua cơ chế phân phối canxi và phospho. Vitamin D làm tăng hấp thu canxi và phốt pho qua đường tiêu hóa. Tại xương, vitamin D cùng hormon cận giáp kích thích chuyển hoá canxi và phốt pho, làm tăng quá trình lắng đọng canxi của xương. 
Trang:
12345
Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia
© 2009 Viendinhduong.vn
Địa chỉ: 48B - Tăng Bạt Hổ - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 3971 7090 | Fax : (84-4) 3971 7885 | Email : viendinhduong@hn.vnn.vn
Designed by BICWeb.vn