Đối với người trưởng thành
Cân nặng kg
Chiều cao
met
Kq BMI
Đánh giá
Bảng phân loại
Chiến lược dinh dưỡng 2001-2010 >>Nội dung
Phần 4 - Các giải pháp chiến lược
Cập nhật ngày: 10/04/2012 10:48:42 | Lượt xem: 5945
 I. Các giải pháp can thiệp nhằm cải thiện dinh dưỡng và chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP)    
1.
Giáo dục và phổ cập kiến thức dinh dưỡng cho toàn dân
1.1
Huấn luyện dinh dưỡng phổ cập
  • Huấn luyện cho mạng lưới cán bộ làm công tác dinh dưỡng (kiến thức dinh dưỡng, lập kế hoạch, kỹ năng thực hành, truyền thông) nhằm giúp tuyến dưới biết cách xây dựng kế hoạch về dinh dưỡng và đủ khả năng triển khai.

  • Huấn luyện và hướng dẫn dinh dưỡng hợp lý cho các đối tượng khác nhau (thanh nữ, người mẹ, nam giới, người cao tuổi, phụ nữ, giáo viên, học sinh...) với tài liệu phổ thông, kiến thức tối thiểu về dinh dưỡng phù hợp cho từng đối tượng.

  • Kết hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, hoàn thiện và đưa nội dung giáo dục dinh dưỡng vào trường học.

  • Tổ chức  hoạt động tư vấn dinh dưỡng hợp lý tại cơ sở cho các đối tượng khác  nhau, nhấn mạnh tới các nội dung: Dinh dưỡng hợp lý; Vệ sinh an toàn thực phẩm; Dinh dưỡng bệnh lý; Dinh dưỡng bà mẹ trẻ em; Dinh dưỡng người cao tuổi...Các chuyên đề thông tin về dinh dưỡng (như giao lưu giữa các nhà dinh dưỡng với nhân dân).

1.2 Giáo dục truyền thông dinh dưỡng

  • Giáo dục đại chúng: Xây dựng chuyên mục dinh dưỡng trên các phương tiện thông tin đại chúng ở các cấp. Đối tượng giáo dục là toàn dân, không chỉ quan tâm tới phụ nữ mà cả nam giới. Cán bộ lãnh đạo, hội viên các đoàn thể xã hội, giáo viên, học sinh cũng là những đối tượng truyền thông quan trọng.Tổ chức các hoạt động động viên toàn xã hội tham gia là rất cần thiết như tổ chức: Ngày vi chất dinh dưỡng, Tuần lễ Dinh dưỡng và phát triển, Ngày chăm sóc bà mẹ và phòng chống SDD, Tuần lễ nuôi con bằng sữa mẹ, Câu lạc bộ các xã có tỷ lệ SDD dưới 30%, Tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, Ngày toàn dân dùng muối Iốt...
  • Giáo dục trực tiếp, đưa thông tin tới gia đình: Do cán bộ ở cơ sở tiến hành dựa theo tài liệu hướng dẫn về nội dung và phương pháp.

  • Thiết kế, cung cấp tài liệu và phương tiện truyền thông. Phổ biến thông tin định kỳ xuống tận xã.

  • Tổ chức bữa ăn gia đình hợp lý, tiết kiệm, gồm 4 món: Cơm, rau, món giàu đạm (đậu phụ, vừng lạc, thịt cá, trứng), món canh. Chú ý chế biến các món ăn hợp khẩu vị dân tộc, phối hợp nhiều loại thực phẩm trong bữa ăn, dùng thêm các cây rau gia vị gây kích thích ăn ngon miệng.
  • Hướng dẫn ăn uống hợp lý cho các đối tượng, lứa tuổi, ngành nghề khác nhau. Quan tâm đến ăn uống của các đối tượng lao động, ăn uống ở khu vực tập thể, trường học.
  • Xây dựng và triển khai chương trình "Bữa ăn trường học" nhằm nâng cao thể lực của học sinh, thông qua bữa ăn dinh dưỡng hợp lý, cân đối.

1.3 Đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học

  • Cần đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ làm dinh dưỡng với các hình thức thích hợp, trước mắt huấn luyện bổ túc, tại chức cho các cán bộ dinh dưỡng ở tỉnh, huyện, xã để lập kế hoạch, quản lý, triển khai, theo dõi, đánh giá các chương trình dinh dưỡng. Nghiên cứu đào tạo cử nhân dinh dưỡng cho tuyến Huyện. Tiếp tục mở các lớp cao học dinh dưỡng và đào tạo tiến sĩ dinh dưỡng ở trong nước và ngoài nước.

  • Mở rộng công tác nghiên cứu về dinh dưỡng và thực phẩm: Chú ý tới lĩnh vực Chất lượng vệ sinh an toàn trong công nghệ chế biến, bảo quản thực phẩm, lưu thông phân phối; Các thức ăn có tác dụng điều trị và phòng bệnh; Món ăn truyền thống-văn hóa ẩm thực; Mối liên quan giữa dinh dưỡng, bệnh tật và sức khoẻ; Các vấn đề dinh dưỡng trong thời kỳ chuyển tiếp.

2. Đảm bảo an ninh thực phẩm ở cấp hộ gia đình

Đây là giải pháp cực kỳ quan trọng, trước hết đối với những vùng xảy ra khan hiếm thực phẩm, vùng nghèo, người dân có thu nhập thấp. Căn cứ vào điều kiện cụ thể, hướng dẫn, phổ cập kiến thức về kỹ thuật VAC và tạo điều kiện cho các gia đình phát triển hệ sinh thái VAC để tạo nguồn thực phẩm tại chỗ. Vận động sản xuất và sử dụng các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như đậu, lạc, vừng, đậu tương...vào bữa ăn. Hỗ trợ vốn cho hộ nghèo tạo công ăn việc làm tăng thu nhập. Tăng cường các dịch vụ bảo đảm cho sản xuất nông nghiệp tại chỗ như nâng cao chất  lượng giống cây, con, hạn chế sử dụng hoá chất, tăng cường phân hữu cơ, sinh học, phát triển công nghệ chế biến sau thu hoạch, bảo quản tại chỗ, quy mô nhỏ tại hộ gia đình, tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Các thực phẩm không là nguồn gây bệnh. Đảm bảo các thành viên trong hộ gia đình có cơ hội ngang nhau tiếp cận với thực phẩm.

3. Phòng chống suy dinh dưỡng protein-năng lượng ở trẻ em và bà mẹ

  • Do tầm quan trọng của vấn đề, phòng chống suy dinh dưỡng protein-năng lượng là một mục tiêu trong hệ thống các mục tiêu về sức khoẻ và được Nhà nước hỗ trợ kinh phí. Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em cần được triển khai trong phạm vi toàn quốc.
  • Thực hiện tiếp cận chăm sóc trẻ em tại hộ gia đình theo phương châm dự phòng. Giáo dục kiến thức dinh dưỡng cho nữ sắp đến tuổi lấy chồng. Đầu ra của các hoạt động là cải thiện được thực hành chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ, ưu tiên chăm sóc trẻ em giai đoạn ngay từ khi sinh ra đến 2 tuổi. Chiến lược chăm sóc bao gồm các nhân tố then chốt là: cải thiện thực hành nuôi con bằng sữa mẹ, bú sữa mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu; ăn bổ sung hợp lý từ tháng thứ 5; chế biến thực phẩm tại địa phương, gia đình; thực hành vệ sinh; tăng thời gian cho chăm sóc trẻ cùng với việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng của người mẹ trước và trong khi có thai cũng như sau đẻ, nâng cao kiến thức thực hành chăm sóc cho mọi thành viên trong gia đình.. Hoạt động hướng dẫn thực hành cách nuôi dưỡng trẻ; theo dõi tăng trưởng trẻ em và theo dõi chăm sóc bà mẹ cần được triển khai thành thạo và có hiệu quả ở các xã.
  • Tùy theo tình hình của từng vùng mà tập trung các hoạt động ưu tiên. Nếu như đại bộ phận vùng nông thôn nơi tình trạng thiếu ăn đã bớt gay gắt thì tập trung hơn vào hoạt động chăm sóc trẻ, thực hành nuôi dưỡng và phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn. Trong khi đó, ở các vùng còn khó khăn thì tập trung hơn cho hoạt động phục hồi dinh dưỡng, hướng dẫn cho gia đình có con SDD biết dựa vào khả năng của gia đình để phục hồi dinh dưỡng, phát triển “ô dinh dưỡng”, hệ sinh thái vườn-ao-chuồng (VAC) gia đình cung cấp thực phẩm tại chỗ. Hướng dẫn, làm mẫu để các gia đình tự làm.
  • Cải thiện tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ đòi hỏi phải nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, giải quyết tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng, huấn luyện kỹ năng dinh dưỡng cho người mẹ, tìm giải pháp giảm gánh nặng lao động nữ, xây dựng và thực thi các chính sách bảo vệ bà mẹ, bảo vệ nguồn sữa mẹ, chế độ thai sản..., nâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình.

4. Phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng

  • Phòng chống thiếu vitamin A. Về cơ bản lâu dài, cần giải quyết bằng biện pháp đa dạng hoá bữa ăn. Tiếp tục duy trì bổ sung vitamin A liều cao cho trẻ từ 6-24 tháng tuổi và bà mẹ sau đẻ trong phạm vi toàn quốc. Từ năm 2006 việc bổ sung vitamin A đại trà chỉ áp dụng ở những vùng khó khăn và duy trì bổ sung vitamin A cho trẻ bị bệnh. Nghiên cứu tăng cường vi chất vào thực phẩm song song với biện pháp đa dạng hoá bữa ăn, khuyến khích nuôi trồng và ăn các thực phẩm giàu Vitamin A từ VAC gia đình.
  • Phòng chống thiếu máu dinh dưỡng. Mở rộng bổ sung sắt/acid folic theo hướng dự phòng cho phụ nữ 15-35 tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú. Nghiên cứu sản xuất sirô sắt cho trẻ suy dinh dưỡng. Hướng dẫn và giáo dục cộng đồng chủ động tiếp cận các nguồn viên sắt/acid folic khác nhau trên thị trường. Chú trọng tới giải pháp tăng cường sắt vào thực phẩm và giải pháp đa dạng hoá bữa ăn. Ở những vùng nhiễm giun móc cao cần tổ chức hoạt động tẩy giun định kỳ kết hợp với vệ sinh môi trường. Phòng chống thiếu máu cần được triển khai trong phạm vi toàn quốc.
  • Phòng chống thiếu Iốt. Đã là một chương trình Mục tiêu riêng. Cần duy trì triển khai Mục tiêu này với các giải pháp: Vận động toàn dân sử dụng muối Iốt song song với tăng cường kiểm tra, giám sát từ khâu sản xuất, phân phối và sử dụng muối Iốt.

5. Phòng chống các bệnh mạn tính liên quan đến dinh dưỡng

  • Tổ chức giám sát tốt tình hình và xu hướng của các bệnh mãn tính không lây liên quan đến đinh dưỡng (Béo phì, Tim mạch, Cao huyết áp,  Tiểu đường và một số bệnh ung thư...)
  • Xây dựng lời khuyên dinh dưỡng hợp lý cho người Việt nam 2001-2010.
  • Củng cố mạng lưới ăn điều trị ở các bệnh viện. Đảm bảo các đối tượng bệnh lý khác nhau được phục vụ chế độ ăn thích hợp.
  • Nghiên cứu sản xuất và đưa vào tiêu dùng thức ăn chức năng (gồm thức ăn chữa bệnh, thức ăn kiêng...)

6. Lồng ghép hoạt động dinh dưỡng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu

Thực hiện chương trình tiêm chủng mở rộng, tăng cường hiệu quả của chương trình lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh tại cộng đồng, đặc biệt là tiêu chảy, viêm phổi (IMCI). Phòng chống các bệnh nhiễm ký sinh trùng đường ruột. Khuyến khích nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4 tháng đầu, cho ăn bổ sung hợp lý từ tháng thứ 5. Chú ý chăm sóc trẻ em đặc biệt khó khăn. Chăm sóc sức khoẻ sinh sản phối hợp với chăm sóc và giáo dục dinh dưỡng. Giáo dục sức khỏe phối hợp với giáo dục lối sống lành mạnh.

7. Đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm
Đây là một lĩnh vực quan trọng được nhà nước hỗ trợ nằm trong chương trình Mục tiêu riêng. An toàn vệ sinh thực phẩm có liên quan chặt chẽ tới dinh dưỡng. Các giải pháp chính tập trung vào các điểm sau đây:

  • Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ về thực phẩm, ban hành pháp lệnh thực phẩm và các văn bản quy phạm pháp luật, kể cả các văn bản kỹ thuật để làm cơ sở pháp lý cho công tác thanh tra kiểm tra chất lượng VSATTP. Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm trên cơ sở áp dụng các quy định của ủy ban tiêu chuẩn hóa về thực phẩm thế giới (Codex) và phù hợp với điều kiện Việt Nam. Xây dựng các labô chuẩn kiểm nghiệm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ở Trung ương và các Trung tâm y học dự phòng cấp tỉnh. Kiểm soát chất lượng và vệ sinh thực phẩm xuất khẩu, nhập khẩu, thức ăn đường phố. Hướng dẫn các cơ sở sản xuất, chế biến, cung ứng thực phẩm áp dụng HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point: Phân tích các mối nguy hại và điểm kiểm soát trọng yếu) và GMP (Good Manufacturing Practices: Thực hành sản xuất tốt).
  • Thực hiện sản xuất thực phẩm an toàn giữ gìn môi trường và nguồn nước sạch. Phối hợp với ngành nông nghiệp, kiểm soát việc kinh doanh, phân phối và sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, tăng cường công tác thanh tra kiểm tra vệ sinh thú y và các loại thực phẩm bán ra trên thị trường.
  • Giáo dục người tiêu dùng kiến thức cơ bản về vệ sinh an toàn thực phẩm. Đào tạo cán bộ kiểm nghiệm và thanh tra chất lượng, vệ sinh thực phẩm.
  • Các hoạt động trên cần được được triển khai với sự hợp tác liên ngành. Hoạt động dinh dưỡng và VSATTP cần được triển khai đi đôi với nhau một cách đồng bộ.

 8. Theo dõi, đánh giá, giám sát dinh dưỡng

Xây dựng hệ thống giám sát dinh dưỡng, theo dõi các họat động và đánh giá tình trạng dinh dưỡng, phối hợp với Tổng cục thống kê xây dựng ngân hàng số liệu về dinh dưỡng. Hàng năm các tỉnh tiến hành điều tra để có số liệu cụ thể về tình trạng dinh dưỡng ở tỉnh mình. Năm 20052010 sẽ tiến hành Tổng điều tra dinh dưỡng trong toàn quốc và của từng tỉnh. Chú ý có số liệu ở các xã nghèo, vùng sâu, vùng xa để đề xuất các giải pháp đặc thù. Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng bảng cân đối về lương thực-thực phẩm cho toàn quốc.

9. Xây dựng mô hình điểm để rút kinh nghiệm chỉ đạo

  • Xây dựng mô hình “cải thiện dinh dưỡng bền vững”, ở đó thực hiện một tiếp cận can thiệp toàn diện đó là tiếp cận “An ninh đời sống”. Đây là một tổ hợp các tác động bao gồm các vấn đề từ An ninh sức khoẻ, Dinh dưỡng, Kinh tế, Văn hoá, Gia đình, Giáo dục, Xã hội, Môi trường và cơ sở hạ tầng. Mô hình này triển khai ở một số huyện thí điểm.
  • Xây dựng mô hình cải thiện dinh dưỡng cho một số đối tượng lao động, ngành nghề, cơ sở sản xuất và bệnh viện; Chăm sóc các đối tượng có nguy cơ cao (bà mẹ, trẻ nhỏ); Mô hình cải thiện dinh dưỡng ở địa bàn khó khăn.

II. Các lĩnh vực có liên quan chặt chẽ đến dinh dưỡng

1. Đảm bảo An ninh lương thực quốc gia

Nhà nước cần có chính sách và giải pháp đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất, sản lượng, hạ giá thành. Chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng, đáp ứng nhu cầu thực phẩm phù hợp với từng vùng sinh thái. Kế hoạch sản xuất cần dựa trên nhu cầu đảm bảo an ninh lương thực vĩ mô đi đôi với việc điều tiết thị trường, vận dụng hợp lý chính sách giá cả. Có chính sách đầu tư cho chế biến, bảo quản nông sản, vận động sản xuất thực phẩm an toàn.

2. Thúc đẩy xoá đói giảm nghèo

Đây là một trong những chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta có tác động quan trọng đối với dinh dưỡng. Đối với những khu vực bị đe dọa mất an ninh lương thực, tỷ lệ SDD cao thì cần có sự hỗ trợ có trọng tâm của nhà nước về cơ sở hạ tầng và đầu tư sản xuất thực phẩm. Đối với khu vực đô thị, cần tập trung cho những khu nghèo, các nhóm nguy cơ, giúp tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập để có khả năng tiếp cận thực phẩm. Lồng ghép mục tiêu dinh dưỡng với chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo.

3. Cải thiện cơ sở hạ tầng, dịch vụ thiết yếu cho công tác chăm sóc bà mẹ, trẻ em.

  • Cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường. Đây là những nội dung thiết yếu có liên quan tới chăm sóc dinh dưỡng. Mở rộng diện dân số được tiếp cận với nước sạch, giải quyết vấn đề vệ sinh môi trường ở các khu vực trọng tâm.
  • Hệ thống nhà trẻ. Cần có chính sách và giải pháp cụ thể khôi phục và nâng cao chất lượng hệ thống nhà trẻ mẫu giáo ở khu vực nông thôn, có sự hỗ trợ của nhà nước và đóng góp của nhân dân.
  • Nâng cấp các trạm y tế ở các xã khó khăn. Là yếu tố đảm bảo sự lồng ghép có hiệu quả giữa chăm sóc sức khỏe ban đầu và chăm sóc dinh dưỡng ở địa phương.

III.  Các chính sách hỗ trợ cho dinh dưỡng

1. Đưa chỉ tiêu dinh dưỡng vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương

Các chỉ tiêu dinh dưỡng thể hiện kết quả và những thành tựu toàn diện của phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn. Do đó, cần phải xem đây là chỉ tiêu phấn đấu của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương các cấp. Chiến lược dinh dưỡng muốn đạt mục tiêu phải trở thành pháp lệnh của chính quyền, của kế hoạch các cấp. Để thực hiện có kết quả chiến lược, đòi hỏi tất cả các xã, huyện, tỉnh đưa chỉ tiêu giảm suy dinh dưỡng và chỉ tiêu thanh toán tình trạng thiếu ăn, đảm bảo VSATTP vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hàng năm của địa phương. Từ đó, mỗi cấp cần chủ động xây dựng kế hoạch và giải pháp phù hợp phấn đấu thực hiện kế hoạch

2.
Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ cho chăm sóc dinh dưỡng

  • Nhà nước cần có quy định và hỗ trợ về chế độ nghỉ đẻ, thai sản cho bà mẹ, bảo vệ nguồn sữa mẹ đặc biệt đối với phụ nữ nông thôn. Tạo điều kiện để các bà mẹ có đủ thời gian chăm sóc con.
  • Tiếp tục thực hiện, bổ sung, hoàn chỉnh các chính sách về phụ nữ, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, chính sách chăm sóc sức khoẻ và dinh dưỡng cho người nghèo, các chính sách và quy định về phúc lợi xã hội.
  • Các chính sách nhằm tạo môi trường pháp lý cho hoạt động tăng cường vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm để phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng.
  • Các chính sách về kiểm soát thanh tra việc chấp hành các văn bản quy phạm pháp luật về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
  • Chính sách hỗ trợ mạng lưới cán bộ triển khai hoạt động dinh dưỡng ở cơ sở.

3. Xã hội hoá công tác dinh dưỡng

Xã hội hoá công tác dinh dưỡng cần phải được coi là một giải pháp chiến lược mang tính liên ngành cao với sự tham gia của nhiều lực lượng xã hội. Hoạt động dinh dưỡng cần có sự quan tâm và trách nhiệm trước hết là của các nhà lãnh đạo cộng đồng. Hoạt động liên ngành là cốt lõi của xã hội hoá công tác dinh dưỡng. Muốn phối hợp liên ngành có kết qủa, Chính phủ phải phân công trách nhiệm cụ thể cho từng ngành, đồng thời mỗi ngành đều quan tâm tới các mục tiêu đầu ra là cải thiện tình trạng dinh dưỡng trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của mình. Chính quyền các cấp cần có kế hoạch hỗ trợ một cách hệ thống và huy động mọi lực lượng xã hội tham gia. Cần làm cho mỗi gia đình, mỗi người dân hiểu và hưởng ứng một cách chủ động.

IV. Đầu tư để thực hiện chiến lược

1. Đầu tư từ ngân sách nhà nước
Hàng năm kế hoạch ngân sách Nhà nước sẽ bố trí nguồn kinh phí đầu tư cho các hoạt động nêu trong chiến lược. Tiếp tục kế hoạch ngân sách đối với các Chương trình Mục tiêu đang thực hiện như: Mục tiêu phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em; Mục tiêu phòng chống các rối loạn do thiếu Iốt; Mục tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm; Và các mục tiêu y tế quốc gia khác. Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo và được bố trí ưu tiên cho các vùng khó khăn...

2. Phát huy nội lực và huy động cộng đồng
Huy động nguồn của các ngành, các địa phương, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp đóng góp vào việc thực hiện Chiến lược dinh dưỡng. Huy động cộng đồng và các gia đình tham gia tích cực vào các hoạt động dinh dưỡng và VSATTP. Muốn huy động có hiệu quả, cần có thông tin rộng rãi về dinh dưỡng và VSATTP để mọi người cùng quan tâm.

3.  Tăng cường hợp tác quốc tế về Dinh dưỡng

  • Mở rộng hợp tác quốc tế song phương, đa phương, với các tổ chức quốc tế, các Chính phủ, tổ chức phi Chính phủ trong lĩnh vực dinh dưỡng.
  • Sử dụng có hiệu quả các nguồn hợp tác quốc tế, phối hợp với nguồn huy động tại chỗ.

V. TỔ CHỨC VÀ PHỐI HỢP LIÊN NGÀNH
1. Về tổ chức


Chính phủ giao cho Bộ Y tế là cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm cùng các Bộ, Ban, Ngành, Đoàn thể, phối hợp với các tổ chức quốc tế xây dựng chiến lược, đồng thời chỉ đạo và điều phối, đánh giá kết quả thực hiện chiến lược.

Viện Dinh dưỡng là cơ quan thường trực giúp Bộ Y tế triển khai về chuyên môn kỹ thuật, tổ chức kiểm tra giám sát, định kỳ đánh giá việc thực hiện chiến lược.

Trong suốt quá trình thực hiện Chiến lược, phải luôn chú trọng đến việc phát triển năng lực đi đôi với việc xác định phương hướng đầu tư các nguồn lực một cách có hiệu quả nhất để đảm bảo sự phát triển bền vững của Chiến lược.

Thành lập Ban chỉ đạo Chiến lược Dinh dưỡng ở mỗi cấp hành chính. Ban chỉ đạo Trung ương do Bộ trưởng Bộ Y tế làm trưởng ban, ở địa phương các cấp do Phó Chủ tịch phụ trách Văn Xã làm trưởng ban, thành viên gồm ngành Y tế (thường trực), Kế hoạch-Đầu tư, Giáo dục, Nông nghiệp, UBBVCSTE, Tài chính, Hội LHPN và các Ban, Ngành, đoàn thể xã hội khác.

2. Nhiệm vụ của các ngành

  • Bộ Y tế: Phối hợp để xây dựng chiến lược, xây dựng kế hoạch, chương trình, dự án về dinh dưỡng, trình Chính phủ phê duyệt, xây dựng kế hoạch hàng năm, chủ trì điều phối thực hiện, đánh giá tổng kết kết quả thực hiện chiến lược.
  • Bộ Kế hoạch-Đầu tư: Đưa vào kế hoạch chung, kể cả các đầu tư hỗ trợ quốc tế,  theo dõi, giám sát thực hiện.
  • Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Căn cứ vào bảng nhu cầu dinh dưỡng, xây dựng kế hoạch và giải pháp của ngành Nông nghiệp đảm bảo an ninh thực phẩm ở quy mô quốc gia và hộ gia đình. Chỉ đạo việc chế biến thực phẩm tại địa phương, hỗ trợ cho phát triển hệ sinh thái VAC gia đình, giám sát dự báo về mất an ninh lương thực. Đẩy mạnh chương trình cung cấp nước sạch nông thôn. Chú ý chỉ đạo sản xuất thực phẩm an toàn, có quy định và kiểm tra việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp. Thực phẩm không được là nguồn gây bệnh.
  • Bộ Giáo dục-Đào tạo: Hoàn thiện mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục dinh dưỡng ở các cấp từ mầm non đến đại học. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống nhà trẻ (đặc biệt là khu vực nông thôn) và các nhà ăn tập thể ở trường học.
  • Ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ em Việt nam: Phối hợp với Bộ Y tế và các ngành liên quan xây dựng chiến lược. Hỗ trợ để có những chính sách thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu dinh dưỡng nói chung và dinh dưỡng trẻ em nói riêng. Chỉ đạo UBBVCSTE các địa phương phối hợp trong việc thực hiện và giám sát chiến lược dinh dưỡng.
  • Bộ Tài chính: Cân đối đảm bảo tài chính cho các chương trình dinh dưỡng đã được duyệt, theo dõi giám sát thực hiện.
  • Bộ Tư pháp: Phối hợp với các ngành nghiên cứu đề xuất Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách hỗ trợ cho dinh dưỡng và VSATTP.
  • Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam (LHPNVN): Phổ biến các kiến thức về dinh dưỡng cho các hội viên và các bà mẹ, vận động cộng đồng cùng tham gia. Phối hợp chặt chẽ với ngành y tế triển khai các hoạt động chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng. Triển khai các hoạt động cụ thể góp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng.
  • Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội: Thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo, chú trọng tới hiệu quả cải thiện tình trạng dinh dưỡng và an ninh lương thực, xây dựng các chính sách hỗ trợ người nghèo, vùng nghèo và hỗ trợ khẩn cấp.
  • Bộ Thương mại: Tổ chức quản lý, lưu thông, phân phối và xuất nhập khẩu lương thực thực phẩm trên cơ sở tính toán có lợi nhất nhằm đảm bảo dinh dưỡng, đảm bảo vi chất dinh dưỡng. Cân đối xuất nhập khẩu nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
  • Bộ Văn hoá-Thông tin: Tổ chức các hoạt động thông tin, truyền thông một cách phong phú, sinh động, hấp dẫn để truyền bá kiến thức về dinh dưỡng hợp lý. Ưu tiên cho các thông tin quảng cáo về dinh dưỡng.
  • Bộ Khoa học-Công nghệ và Môi trường: Hỗ trợ các nghiên cứu về dinh dưỡng và VSATTP
  • Ủy  ban Quốc gia Dân số-Kế hoạch hoá gia đình: Thực hiện KHHGĐ đi đôi với nâng cao chất lượng dân số, trong đó dinh dưỡng là một thành tố quan trọng. Chỉ đạo để cộng tác viên dân số đảm nhiệm thêm nhiệm vụ về dinh dưỡng.
  • Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội VACVINA, Hội Cựu chiến binh, Đoàn TNCS HCM
  • Phổ biến các kiến thức về dinh dưỡng cho các thành viên, hội viên. Phối hợp chặt chẽ với ngành Y tế trong việc thực hiện xã hội hóa công tác dinh dưỡng.

3. Trách nhiệm của các địa phương

Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ có trách nhiệm tổ chức thực hiện chiến lược trong phạm vi địa phương.

4Cơ chế phối hợp

  • Trên cơ sở mục tiêu và chiến lược chung, các Bộ, Ngành, Đoàn thể xã hội căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của mình để xây dựng kế hoạch cụ thể. Kế hoạch thực hiện vừa đáp ứng với nhiệm vụ thường xuyên của các Bộ Ngành đồng thời đáp ứng theo những mục tiêu của chiến lược đề ra.
  • Định kỳ 3 tháng một lần, Bộ Y tế với tư cách là cơ quan chủ trì, tổ chức kiểm điểm các hoạt động thực hiện mục tiêu với sự tham gia của các Bộ, Ngành có liên quan.
  • Định kỳ 6 tháng một lần, các địa phương có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện với Bộ Y tế. Bộ Y tế tổng hợp báo cáo với Thủ tướng Chính phủ về tiến độ và kết quả thực hiện.
  • Cần đẩy mạnh sự phối hợp liên ngành ở các địa phương, đồng thời có liên hệ chặt chẽ với Ban chỉ đạo chiến lược ở Trung ương.

5. Kế hoạch thực hiện

  • Giai đoạn 1 (2001-2005): Triển khai các hoạt động trọng tâm nhằm cải thiện dinh dưỡng, chú trọng công tác giáo dục, huấn luyện, phát triển nhân lực  và bổ sung các chính sách hỗ trợ cho dinh dưỡng. Tiếp tục triển khai các chương trình mục tiêu.
  • Giai đoạn 2 (2006-2010): Tiếp tục các hoạt động giai đoạn trước, thể chế hoá việc chỉ đạo của Nhà nước đối với công tác dinh dưỡng, duy trì bền vững, đánh giá toàn diện việc thực hiện Chiến lược.

 

Link download:

Toàn văn:
Chiến lược quốc gia dinh dưỡng, 2001-2010

Toàn văn:
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng, giai đoạn 2001-2010

Toàn văn:
Hướng dẫn tổ chức triển khai chiến lược quốc gia dinh dưỡng 2001-2010

 

Tìm kiếm
Link liên kết





Phần mềm đọc PDF
Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia
©2013 Viendinhduong.vn
Địa chỉ: 48B - Tăng Bạt Hổ - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội| Email: ninvietnam@viendinhduong.vn
Điện thoại: (84-4) 3971 7090 | Fax: (84-4) 3971 7885 |Số đăng ký: 178/GP-TTĐT. Cấp ngày 10/10/2011