Research
Thống nhất phương pháp kỹ thuật sử dụng trong đánh giá thừa cân - béo phì của các nhóm tuổi khác nhau
Tác giả: Nguyễn Thị Lâm

Tạp chí DD&TP/Journal of Food and Nutrition Sciences - Số 1 - Tháng 10 năm 2003 / No.1 - October 2003

Viet Nam summary
  1. Cách tính tuổi và phân loại lớp tuổi: Sử dụng cách tính tuổi và phân loại lớp tuổi của WHO 1983, 1995. Các nhóm tuổi trong đánh giá thừa cân, béo phì như sau: Ví dụ:

Trẻ dưới 1 tuổi: Từ sơ sinh đến 11 tháng 29 ngày.

Trẻ < 5 tuổi là: Từ sơ sinh đến 59 tháng 29 ngày.

5 – 9 tuổi là: 60  tháng đến tròn 8 năm 11 tháng 30 ngày.

10-19 tuổi: 10 tuổi – 18 năm 11 tháng 30 ngày.

20-69 tuổi, ở lớp tuổi 20-69 tuổi: Nếu chia ra lớp nhỏ 5 năm hay 10 năm là tùy theo các đề tài lựa chọn, ví dụ:

+ 20-24 tuổi, 25-29 tuổi, 30-34 tuổi…

+ Hoặc: 20-29 tuổi, 30-39 tuổi, 40-49 tuổi…

  1. Đánh giá thừa cân – béo phì ở trẻ < 5 tuổi

Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao (CN/CC > +2 Z-scores) chưa đủ để đưa ra kết luận đứa trẻ bị béo phì, nhưng có thể coi là một chỉ tiêu đánh giá béo phì của một quần thể. Hay nói một cách khác để đánh giá béo phì cần phối hợp cả chỉ tiêu CN/CC > + 2SD so với quần thể tham khảo NCHS và bề dày lớp mỡ dưới cơ tam đầu, gốc dưới xương bả vai > 90 percentile (tài liệu tham khảo NHANESI của Mỹ).

  1. Trẻ lứa tuổi 5-9 tuổi

Đối với trẻ em lứa tuổi 5-9 tuổi chưa có thang phân loại riêng để đánh giá tình trạng thừa cân và béo phì. Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước thường lấy ngưỡng cân nặng theo chiều cao: > + 2 Z-scores (CN/CC > + 2Z-scorers) so với quần thể tham khảo NCHS để phân loại thừa cân và béo phì của trẻ - tương tự như trẻ dưới 5 tuổi.

  1. Ở trẻ vị thành niên (10-19 tuổi)

Trẻ vị thành niên được tính cho lứa tuổi từ 10-19 tuổi. Từ năm 1995, theo qui ước của Tổ chức Y tế thế giới, đối với trẻ vị thành niên, chỉ số khối cơ thể BMI được sử dụng để đánh giá TTDD. Chỉ số BMI ≥ percentile là thừa cân. Béo phì được xác định khi BMI theo tuổi và giới của trẻ ≥ 95 percentile; hoặc BMI ≥ percentile, cộng thêm bề dày LMDD cơ tam đầu và dưới xương bả vai ≥ 90 percentile (WHO, 1995).

  1. Ở người trưởng thành (20-69 tuổi)

Tổ chức Y tế thế giới khuyên dùng “chỉ số khối cơ thể” (Body Mass Index – BMI), WHO 1995) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành.

Tháng 2 năm 2000, cơ quan khu vực Thái Bình Dương của Tổ chức Y tế thế giới (WPRO) và Hội nghiên cứu béo phì quốc tế đã phối hợp với Viện nghiên cứu Bệnh đái tháo đường Quốc tế (IDI). Trung tâm hợp tác Dịch tễ học đái tháo đường, và các bệnh không lây của Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra khuyến nghị về chỉ tiêu phân loại béo phì cho cộng đồng các nước châu Á (IDI & WPRO, 2000) như sau:

                   Bảng phân loại thừa cân và béo phì cho các nước châu Á

       Phân loại

  WHO, 1998 BMI (kg/m2)

  IDI & WPRO, 2000 BMI   (kg/m2)

Nhẹ cân (CED)

< 18,5

<18,5

TTDD bình thường

18,5-24,9

18,5-22,9

Thừa cân

≥25,0

≥23,0

Tiền béo phì

25,0-29,9

23,0-24,9

Béo phì độ I

30,0-34,9

25,0-29,9

Béo phì độ II

35,0-39,9

≥30,0

Béo phì độ III

≥40,0

 

Các nghiên cứu về thừa cân béo phì nên phân loại theo cả 2 cách trên để có thể so sánh với các nghiên cứu theo phân loại của WHO cũng như theo phân loại cho người Châu Á.

Một điều cần chú ý trong phân loại béo phì nữa là vùng chất mỡ tập trung. Vì vậy bên cạnh theo dõi chỉ số BMI nên theo dõi thêm tỷ số vòng bụng/ vòng mông. Khi tỷ số ngày vượt quá 0,9 ở nam giới và 0,8 ở nữ giới thì các nguy cơ tăng huyết áp, bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường đều tăng lên rõ rệt.

Đo tỷ lệ mỡ cơ thể dựa trên nguyên lý đo điện trở sinh học bằng cân Tanita để phân loại béo phì với ngưỡng: nam>25% và nữ > 30% là béo phì.

  1. Đánh giá yếu tố nguy cơ của thừa cân – béo phì:

Nếu bệnh nhân có 3 yếu tố nguy cơ trở lên đã mắc bệnh có liên quan đến thừa cân, béo phì có thể phân loại là có nguy cơ cao của rối loạn có liên quan tới béo phì. Đó là:

  • Tăng huyết áp.
  • Hàm lượng lipid có tỷ trọng thấp (Low Density Lipoprotein) LDL – Cholesterol ≥160mg/dL (4,1mmol/L).
  • Hàm lượng lipid có tỷ trọng cao (High Density Lipoprotein) HDL – C < 35 mg/dL (0,9 mmol/L).
  • Glucose máu lúc đói 110-125mg/ dL hoặc 6,1 – 6,9 mmol/L.
  • Tiền sử gia đình có người bị bệnh tim mạch.
  • Tuổi trên 45 với nam giới và trên 55 với phụ nữ.
  • Hút thuốc lá.

Việc có mặt của các yếu tố nguy cơ cao cần xem xét tới việc cần thiết phải điều trị béo phì và nghiệm pháp làm giảm lipid máu và huyết áp.

Unified techniques used in evaluating overweight-obesity of different age groups
Author: Nguyen Thi Lam

Tạp chí DD&TP/Journal of Food and Nutrition Sciences - Số 1 - Tháng 10 năm 2003 / No.1 - October 2003

English summary
  1. Cách tính tuổi và phân loại lớp tuổi: Sử dụng cách tính tuổi và phân loại lớp tuổi của WHO 1983, 1995. Các nhóm tuổi trong đánh giá thừa cân, béo phì như sau: Ví dụ:

Trẻ dưới 1 tuổi: Từ sơ sinh đến 11 tháng 29 ngày.

Trẻ < 5 tuổi là: Từ sơ sinh đến 59 tháng 29 ngày.

5 – 9 tuổi là: 60  tháng đến tròn 8 năm 11 tháng 30 ngày.

10-19 tuổi: 10 tuổi – 18 năm 11 tháng 30 ngày.

20-69 tuổi, ở lớp tuổi 20-69 tuổi: Nếu chia ra lớp nhỏ 5 năm hay 10 năm là tùy theo các đề tài lựa chọn, ví dụ:

+ 20-24 tuổi, 25-29 tuổi, 30-34 tuổi…

+ Hoặc: 20-29 tuổi, 30-39 tuổi, 40-49 tuổi…

  1. Đánh giá thừa cân – béo phì ở trẻ < 5 tuổi

Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao (CN/CC > +2 Z-scores) chưa đủ để đưa ra kết luận đứa trẻ bị béo phì, nhưng có thể coi là một chỉ tiêu đánh giá béo phì của một quần thể. Hay nói một cách khác để đánh giá béo phì cần phối hợp cả chỉ tiêu CN/CC > + 2SD so với quần thể tham khảo NCHS và bề dày lớp mỡ dưới cơ tam đầu, gốc dưới xương bả vai > 90 percentile (tài liệu tham khảo NHANESI của Mỹ).

  1. Trẻ lứa tuổi 5-9 tuổi

Đối với trẻ em lứa tuổi 5-9 tuổi chưa có thang phân loại riêng để đánh giá tình trạng thừa cân và béo phì. Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước thường lấy ngưỡng cân nặng theo chiều cao: > + 2 Z-scores (CN/CC > + 2Z-scorers) so với quần thể tham khảo NCHS để phân loại thừa cân và béo phì của trẻ - tương tự như trẻ dưới 5 tuổi.

  1. Ở trẻ vị thành niên (10-19 tuổi)

Trẻ vị thành niên được tính cho lứa tuổi từ 10-19 tuổi. Từ năm 1995, theo qui ước của Tổ chức Y tế thế giới, đối với trẻ vị thành niên, chỉ số khối cơ thể BMI được sử dụng để đánh giá TTDD. Chỉ số BMI ≥ percentile là thừa cân. Béo phì được xác định khi BMI theo tuổi và giới của trẻ ≥ 95 percentile; hoặc BMI ≥ percentile, cộng thêm bề dày LMDD cơ tam đầu và dưới xương bả vai ≥ 90 percentile (WHO, 1995).

  1. Ở người trưởng thành (20-69 tuổi)

Tổ chức Y tế thế giới khuyên dùng “chỉ số khối cơ thể” (Body Mass Index – BMI), WHO 1995) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành.

Tháng 2 năm 2000, cơ quan khu vực Thái Bình Dương của Tổ chức Y tế thế giới (WPRO) và Hội nghiên cứu béo phì quốc tế đã phối hợp với Viện nghiên cứu Bệnh đái tháo đường Quốc tế (IDI). Trung tâm hợp tác Dịch tễ học đái tháo đường, và các bệnh không lây của Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra khuyến nghị về chỉ tiêu phân loại béo phì cho cộng đồng các nước châu Á (IDI & WPRO, 2000) như sau:

                   Bảng phân loại thừa cân và béo phì cho các nước châu Á

       Phân loại

  WHO, 1998 BMI (kg/m2)

  IDI & WPRO, 2000 BMI   (kg/m2)

Nhẹ cân (CED)

< 18,5

<18,5

TTDD bình thường

18,5-24,9

18,5-22,9

Thừa cân

≥25,0

≥23,0

Tiền béo phì

25,0-29,9

23,0-24,9

Béo phì độ I

30,0-39,9

25,0-29,9

Béo phì độ II

35,0-39,9

≥30,0

Béo phì độ III

≥40,0

 

Các nghiên cứu về thừa cân béo phì nên phân loại theo cả 2 cách trên để có thể so sánh với các nghiên cứu theo phân loại của WHO cũng như theo phân loại cho người Châu Á.

Một điều cần chú ý trong phân loại béo phì nữa là vùng chất mỡ tập trung. Vì vậy bên cạnh theo dõi chỉ số BMI nên theo dõi thêm tỷ số vòng bụng/ vòng mông. Khi tỷ số ngày vượt quá 0,9 ở nam giới và 0,8 ở nữ giới thì các nguy cơ tăng huyết áp, bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường đều tăng lên rõ rệt.

Đo tỷ lệ mỡ cơ thể dựa trên nguyên lý đo điện trở sinh học bằng cân Tanita để phân loại béo phì với ngưỡng: nam>25% và nữ > 30% là béo phì.

  1. Đánh giá yếu tố nguy cơ của thừa cân – béo phì:

Nếu bệnh nhân có 3 yếu tố nguy cơ trở lên đã mắc bệnh có liên quan đến thừa cân, béo phì có thể phân loại là có nguy cơ cao của rối loạn có liên quan tới béo phì. Đó là:

  • Tăng huyết áp.
  • Hàm lượng lipid có tỷ trọng thấp (Low Density Lipoprotein) LDL – Cholesterol ≥160mg/dL (4,1mmol/L).
  • Hàm lượng lipid có tỷ trọng cao (High Density Lipoprotein) HDL – C < 35 mg/dL (0,9 mmol/L).
  • Glucose máu lúc đói 110-125mg/ dL hoặc 6,1 – 6,9 mmol/L.
  • Tiền sử gia đình có người bị bệnh tim mạch.
  • Tuổi trên 45 với nam giới và trên 55 với phụ nữ.
  • Hút thuốc lá.

Việc có mặt của các yếu tố nguy cơ cao cần xem xét tới việc cần thiết phải điều trị béo phì và nghiệm pháp làm giảm lipid máu và huyết áp.

Search
WebLink




PDF reader software
National Institute of Nutrition
©2013 Viendinhduong.vn
Addresss: 48B - Tang Bat Ho - Hai Ba Trung dist. - Ha Noi| Email: ninvietnam@viendinhduong.vn
Phone: (84-4) 3971 7090 | Fax: (84-4) 3971 7885 |Số đăng ký: 178/GP-TTĐT. Cấp ngày 10/10/2011