Đái tháo đường là gì?
Đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hóa do sự thiếu hụt hoặc giảm hoạt động của insulin hoặc kết hợp cả hai dẫn đến tình trạng tăng đường huyết mạn tính.
Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây [1]:
a) Glucose huyết tương lúc đói ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) hoặc:
b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L).
c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol) (HbA1c là một loại hemoglobin đặc biệt kết hợp giữa hemoglobin và glucose trong máu, nó đại diện cho tình trạng gắn kết của đường trên Hb hồng cầu).
d) Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L).
Đái tháo đường được chia làm 2 loại chính:
Triệu chứng của đái tháo đường
Ở giai đoạn đầu, có nhiều bệnh nhân không thấy có triệu chứng gì. Khi bệnh tiến triển, bệnh nhân có thể có các triệu chứng điển hình như: ăn nhiều, uống nhiều, đi tiểu nhiều và gầy sút cân nhiều.
Triệu chứng điển hình của đái tháo đường bao gồm: Ăn nhiều, uống nhiều, đi tiểu nhiều và gầy sút cân nhiều. Tuy nhiên, chúng ta nên lưu ý là khi đã có các triệu chứng này thì bệnh đã ở giai đoạn phải điều trị; Một số triệu chứng khác: khô miệng, khô da, mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, mất ngủ, rụng tóc và rối loạn kinh nguyệt (ở phụ nữ), vết thương lâu lành, có cảm giác kiến bò ở đầu chi... Nếu người bệnh không được khám và điều trị có thể dẫn đến những biến chứng nặng và phức tạp khác.
Triệu chứng của cơn hạ đường huyết:
Những yếu tố nguy cơ của đái tháo đường:
Đối với bệnh tiểu đường tuýp 1: Nguyên nhân do tuyến tụy không sản xuất đủ insulin. Kết quả là glucose không thể vào trong tế bào để dự trữ năng lượng và dẫn đến lượng glucose trong máu quá cao gây ra hiện tượng tăng đường huyết. Mộ số nguyên nhân khác bao gồm các bệnh khác như xơ nang ảnh hưởng đến tuyến tụy, phẫu thuật loại bỏ tuyến tụy, và chứng viêm (sưng, kích thích) tuyến tụy nặng cũng có thể gây ra bệnh tiểu đường bằng cách gây tổn thương tụy.
Đối với bệnh tiểu đường tuýp 2: Nguyên nhân của bệnh tiểu đường tuýp vẫn chưa được làm rõ, một số trường hợp ghi nhận bệnh có di truyền. Bên cạnh đó, tình trạng thừa cân béo phì cũng có liên hệ chặt chẽ với bệnh, tuy nhiên cần phân biệt không phải ai thừa cân cũng đều mắc bệnh tiểu đường type 2
Một số yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến tiểu đường tuýp 2 gồm:
Những yếu tố nguy cơ của đái tháo đường tuýp 1 bao gồm: Tuổi khởi phát bệnh < 30 tuổi, triệu chứng rầm rộ, tiền sử gia đình có người bị bệnh hoặc mắc bệnh tự miễn khác. Khi thấy mình có một trong các biểu hiên như trên cần đến cơ sở y tế để được thăm khám và được chẩn đoán chính xác
Cách phát hiện bệnh đái tháo đường
Bệnh đái tháo đường được xác định bằng cách xét nghiệm nồng độ glucose trong máu (hay còn gọi là đường huyết). Đái tháo đường được chẩn đoán xác định nếu kết quả xét nghiệm máu 2 lần đều có một trong các kết quả như dưới đây:
Người bệnh đái tháo đường tuýp 1: nên thử đường huyết thường xuyên, ít nhất 3 lần mỗi ngày để đạt mục tiêu điều trị.
Người bệnh đái tháo đường tuýp 2 nên thử đường huyết một số lần như sau:
Cách thử đường huyết tại nhà:
Để kiểm tra đường huyết tại nhà, người bệnh nên sử dụng máy đo đường huyết cá nhân.
Các bước sử dụng máy đo đường huyết cá nhân để thử đường huyết tại nhà:
Lưu ý: một số trường hợp cho kết quả đo đường huyết không đúng, có thể do: cho không đủ máu vào que thử, tay không sạch, que thử hết hạn sử dụng, máy không được định chuẩn… nên trước khi thử, cần phải hết sức chú ý.
Khi đã được chẩn đoán bị đái tháo đường, người bệnh cần làm gì?
Đến khám tại cơ sở y tế định kỳ, khám theo lịch hẹn hoặc ngay khi có các triệu chứng/dấu hiệu của tăng đường huyết hoặc nghi ngờ bị đái tháo đường.
Tuân thủ điều trị và theo dõi đường huyết thường xuyên là một nguyên tắc tối quan trọng trong điều trị và kiểm soát đường huyết. Đi khám định kỳ theo đúng lịch hẹn, và tuân thủ đúng các hướng dẫn điều trị bao gồm cả việc dùng thuốc và các lời khuyên về sinh hoạt, ăn uống. Khi đã được chẩn đoán bị đái tháo đường thì việc sử dụng các loại thuốc khác, kể cả các loại thuốc đông y đều cần lời khuyên của bác sỹ. Việc tuân thủ điều trị bệnh đái tháo đường giúp phòng ngừa nhiều biến chứng như suy thận, đoạn chi, mù mắt và kéo dài tuổi thọ khỏe mạnh cho người bệnh...
Phòng ngừa hạ đường huyết

Xử trí hạ đường huyết:
Dinh dưỡng đối với người bệnh bị đái tháo đường
Dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng đối với bệnh nhân đái tháo đường. Một chế độ dinh dưỡng hợp lý có thể giúp kiểm soát tốt đường huyết mà không cần dùng thuốc hoặc giảm được liều thuốc đang sử dụng và giảm hoặc kiềm chế các biến chứng do đái tháo đường gây ra.
*Mục tiêu của chế độ dinh dưỡng:
*Nguyên tắc của chế độ dinh dưỡng:
Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân đái tháo đường cần:
Duy trì chế độ ăn đa dạng thực phẩm
Người bệnh tiểu đường, bữa ăn phải có đầy đủ các chất: chất bột đường, chất đạm, chất béo, chất xơ và chất khoáng để đảm bảo sức khỏe của người bệnh. Nhìn chung, người bệnh nên chọn và ăn nhiều thực phẩm ít làm tăng đường huyết, nhiều chất xơ như: rau xanh, hoa quả ít ngọt như: táo, bưởi, ổi... bổ sung thêm thịt, cá, sữa, với lượng vừa phải. Lượng thức ăn phải tùy theo cân nặng và mức độ hoạt động thể lực của người bệnh. Một bữa ăn hỗn hợp gồm chất bột đường và nhiều chất xơ có tác dụng làm hạn chế tăng đường huyết sau ăn.
* Lựa chọn thực phẩm:
*Hạn chế:
Để người bệnh tiểu đường dễ dàng trong việc lựa chọn thực phẩm một số thực phẩm đã được chia theo nhóm chỉ số đường huyết:
Với người bị tiểu đường nên chia làm nhiều bữa nhỏ để tránh tăng đường huyết nhiều sau khi ăn. Có thể chia làm 5-6 bữa nhỏ trong ngày. Với bệnh nhân điều trị bằng Insulin tác dụng chậm có thể bị hạ đường huyết trong đêm, do vậy nên cho ăn thêm bữa phụ trước khi đi ngủ.
Ngoài việc điều chỉnh chế độ ăn, việc tập luyện, vận động thường xuyên, có lối sống năng động cũng được coi là một biện pháp kiểm soát đường huyết. Vận động thể lực giúp làm giảm lượng đường trong máu và cải thiện khả năng sử dụng glucose của cơ thể, tăng tác dụng của insulin, khi tập thể dục đều đặn, liều insulin cần thiết có thể giảm, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, cải thiện huyết áp ở người huyết áp nhẹ và vừa, cải thiện khả năng vận chuyển oxy làm tăng độ dẻo dai và sức chịu đựng của cơ thể, kiểm soát trọng lượng cơ thể. Có nhiều nghiên cứu gần đây còn chứng minh rằng, việc luyện tập thường xuyên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc điều trị và ngăn chặn các biến chứng của bệnh tiểu đường. Tuy nhiên cần tránh luyện tập quá mức.
Đối với người đái tháo đường tập thể dục như là liệu pháp giúp điều trị bệnh. Khi người bệnh vận động các bộ phận trong cơ thế phối hợp nhịp nhàng với nhau làm giảm đường huyết trong máu. Đối với những người quá cân, béo phì nên giảm ăn và tăng cường tập thể dục để giảm cân. Tuy nhiên, nên giảm cân từ từ, không nên giảm cân quá nhanh, đột ngột. Đối với người gầy thì nên ăn thêm 1-2 bữa phụ để tăng cân, lượng thức ăn cũng vừa phải, có thể tăng cường thêm chất đạm hoặc chất béo. Hiệp hội đái tháo đường Mỹ đưa ra những lời khuyên sau đây dành cho người đái tháo đường:
Ngoài điều chỉnh chế độ ăn và vận động, việc ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào kể cả các dạng khác như hút thuốc lá điện tử, nhai, ăn… cũng như tránh xa môi trường có khói thuốc.