Định nghĩa tăng huyết áp
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới cũng như Bộ Y tế của Việt Nam, tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu hay còn gọi là huyết áp tối đa ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương hay còn gọi là huyết áp tối thiểu ≥ 90mmHg .
Ở đây, chúng ta hiểu là chỉ cần 1 trong 2 chỉ tiêu, hoặc huyết áp tối đa từ 140 mmHg trở lên hoặc huyết áp tối thiểu từ 90 mmHg trở lên là đã đủ tiêu chuẩn đánh giá tăng huyết áp và bác sỹ cần có các tư vấn và điều trị phù hợp rồi, không nhất thiết phải cả hai chỉ tiêu huyết áp này trên ngưỡng mới coi là tăng huyết áp.
Hiểu một cách nôm na, tăng huyết áp là khi huyết áp của chúng ta vượt ngưỡng bình thường nên có, nếu không được điều trị phù hợp thì tình trạng tăng huyết áp khiến toàn bộ các cơ quan trong cơ thể chúng ta hoạt động không bình thường, lâu ngày có thể gây ra các biến chứng như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, xuất huyết não, suy thận, đái tháo đường.
Tăng huyết áp thường gặp hơn ở người cao tuổi hoặc người có các bệnh nền phối hợp khác: bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường, béo phì, mỡ máu…
Triệu chứng của tăng huyết áp
Tăng huyết áp còn thường được gọi là "Cao huyết áp" hoặc "huyết áp cao". Chúng ta thường không tự nhận biết được tăng huyết áp thông qua các triệu chứng của bệnh. Chúng ta thường vô tình phát hiện huyết áp mình cao trong các lần đi khám hay kiểm tra sức khỏe tại cơ sở y tế hoặc tự kiểm tra huyết áp bằng máy tại nhà.
Tuy nhiên, tăng huyết áp có thể có một số triệu chứng không điển hình dễ nhận biết như cảm thấy chóng mặt, nhức đầu, xây xẩm mặt mày, bốc hỏa, tim đập nhanh, mệt mỏi...Một số trường hợp có thể có các triệu chứng cao huyết áp thoáng qua như nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, mất ngủ nhẹ,... Một số bệnh nhân khác có biểu hiện tăng huyết áp dữ dội hơn, chẳng hạn như đau nhói vùng tim, suy giảm thị lực, thở gấp, mặt đỏ bừng, da tái xanh, nôn ói, hồi hộp, đánh trống ngực, hốt hoảng.Vì thế, người tuổi trung niên nếu có các triệu chứng như trên thì nên kiểm tra huyết áp.
Triệu chứng tăng huyết áp thường diễn biến thầm lặng, ít khi biểu hiện rõ ràng nhưng những biến chứng mà gây ra thì thường rất nặng nề.
Cách nhận biết tăng huyết áp
Đo huyết áp là biện pháp đơn giản, hiệu quả và là cách sớm nhất để biết tình trạng cao huyết áp. Ngày nay, có nhiều thiết bị đo huyết áp điện tử, giá thành tương đối hợp lý, do đó, người dân có thể tự đo huyết áp tại nhà một cách dễ dàng. Một số nhà thuốc luôn có sẵn máy đo huyết áp tại quầy, nếu không có máy đo huyết áp tại nhà, người dân có thể đo tại các quầy thuốc hoặc tại các cơ sở y tế.
Huyết áp của chúng ta phụ thuộc vào sức co bóp của tim, sức cản của động mạch và lưu lượng máu qua tim. Huyết áp còn phụ thuộc vào tư thế của chúng ta khi đo huyết áp (huyết áp khác nhau khi ta đo ở tư thế ngồi, nằm hay đứng) và chế độ ăn uống, sinh hoạt (chế độ ăn mặn, nhiều mỡ, uống rượu/bia, hút thuốc lá/thuốc lào, căng thẳng...gây gia tăng nguy cơ tăng huyết áp). Vì thế, các chỉ số huyết áp chúng ta đo được có thể khác nhau giữa các lần đo, đặc biệt khi sử dụng máy đo huyết áp điện tử. Chẳng hạn, đêm hôm trước chúng ta ngủ muộn, dậy sớm đo huyết áp sẽ khác với một đêm ngủ ngon, đủ giấc; huyết áp khi chúng ta ăn no sẽ khác với khi đói bụng.
Khi đo huyết áp tại nhà ta nên chú ý một số điểm sau:
Nghỉ ngơi trong phòng yên tĩnh ít nhất 5 – 10 phút trước khi đo huyết áp. Không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc, rượu bia) trước đó 2 giờ. Đi tiểu trước khi đo huyết áp. Chuẩn bị và kiểm tra tình trạng của máy đo huyết áp, đảm bảo máy đã có pin (đối với máy đo huyết áp điện tử) hoặc còn sử dụng tốt (đối với máy đo huyết áp cơ), và đảm bảo đã biết sử dụng máy đo.
Để so sánh huyết áp giữa các lần đo chính xác nhất thì các giá trị huyết áp của cùng thời điểm, cùng tư thế nên được so sánh với nhau. Lý tưởng là có người nhà đo huyết áp giúp bạn. Tuy nhiên, trong thực tế, người bị huyết áp cao thường tự đo huyết áp tại nhà. Khuyến khích dùng huyết áp kế điện tử vì nó tương đối dễ sử dụng, kết quả đảm bảo độ tin cậy. Huyết áp kế thủy ngân hoặc huyết áp kế đồng hồ sử dụng phức tạp hơn và nếu dùng không đúng cách có thể gây ra sai số khi đo và vỡ nhiệt kế thủy ngân. Hai loại này thường được sử dụng tại các cơ sở y tế hơn là tại nhà. Ở hướng dẫn này chúng tôi sẽ hướng dẫn các bạn đo huyết áp bằng huyết áp kế điện tử.
Tư thế đo huyết áp chuẩn là người được đo huyết áp ngồi ghế tựa, cánh tay duỗi thẳng trên bàn hoặc mặt phẳng, khuỷu tay để ngang mức với tim (để cao hay thấp hơn đều gây ảnh hưởng kết quả đo), lưng thẳng và tựa lưng vào ghế, bàn chân chạm hoàn toàn xuống đất, hai chân không bắt chéo nhau; cánh tay nên được bộc lộ hết, tức là để trần, không có tay áo phủ ở bên ngoài. Quấn băng quấn đủ chặt, bờ dưới của bao đo ở trên lằn khuỷu tay khoảng 2cm tương đương một đốt ngón tay. Đặt máy ở vị trí ngang mức với tim. Hoặc làm theo đúng hướng dẫn sử dụng của loại máy các bạn đang dùng về vị trí đặt, mức độ đóng chặt của dải quấn. Không nói chuyện khi đang đo huyết áp. Vận hành máy theo sự hướng dẫn của máy đã có sẵn và ghi lại các giá trị đo.
Ở lần đo đầu tiên, cần đo huyết áp ở cả hai cánh tay, tay nào có chỉ số huyết áp cao hơn sẽ dùng để theo dõi huyết áp về sau. Nên đo huyết áp ít nhất hai lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 1-2 phút. Nếu số đo huyết áp giữa 2 lần đo chênh nhau trên 10mmHg, cần đo lại một vài lần sau khi đã nghỉ trên 5 phút. Giá trị huyết áp ghi nhận là trung bình của hai lần đo cuối cùng.
Nếu bị tăng huyết áp, tôi phải làm gì?
Đến khám tại cơ sở y tế định kỳ, khám theo lịch hẹn hoặc ngay khi có các triệu chứng/dấu hiệu nghi ngờ tăng huyết áp. Hoặc đến khám nếu tự theo dõi các trị số HA tại nhà cho kết quả nghi ngờ (HA tối đa trên 130mmHg, HA tối thiểu trên 85 mmHg).
Tuân thủ điều trị và theo dõi huyết áp thường xuyên là một nguyên tắc tối quan trọng trong điều trị và kiểm soát tăng huyết áp. Có đến khoảng 90% tăng huyết áp hiện nay là tăng huyết áp vô văn nguyên phát (tức là bác sỹ chỉ xác định được bệnh nhân có tăng huyết áp nhưng không thể tìm ra nguyên nhân của tăng huyết áp) vì thế người bị tăng huyết áp thường phải dùng thuốc hạ áp cả đời. Ở người tăng huyết áp, kể cả khi huyết áp về bình thường thì vẫn phải uống thuốc. Chính vì thế, người bệnh nên dùng đúng loại thuốc, đúng liều lượng, đúng thời gian và đúng hướng dẫn của bác sỹ điều trị. Không tự ý phối kết hợp các loại thuốc hoặc tăng giảm liều thuốc trong quá trình điều trị hoặc tự ý bỏ thuốc khi thấy huyết áp đã giảm. Đi khám định kỳ theo đúng lịch hẹn, và tuân thủ đúng các hướng dẫn điều trị bao gồm cả việc dùng thuốc và các lời khuyên về sinh hoạt, ăn uống. Khi đã được chẩn đoán tăng huyết áp thì việc sử dụng các loại thuốc khác, kể cả các loại thuốc đông y đều cần lời khuyên của bác sỹ
Vì tăng huyết áp gây ra nhiều biến chứng về tim, mạch thậm chí có thể gây tử vong nên ngoài việc tuân thủ điều trị bằng thuốc, chế độ ăn hợp lý là một biện pháp quan trọng để kiểm soát huyết áp cũng như hạn chế các biến chứng.
Điều quan trọng đầu tiên trong chế độ ăn của người bị tăng huyết áp là ăn nhạt. Khuyến nghị hiện nay của Viện Dinh dưỡng, mỗi người Việt Nam trưởng thành nên tiêu thụ tối đa khoảng 5g muối một ngày. Đối với người tăng huyết áp thì tổng lượng muối hàng ngày giảm dưới mức này có thể có tác dụng làm giảm 2-8 mmHg. Do đó, người tăng huyết áp nên hạn chế ăn các thực phẩm chế biến sẵn chứa nhiều muối như dưa, cà muối, thịt muối, cá muối, giò, chả, pate, khoai tây chiên, bánh mặn, các loại thức ăn nhanh...Khi mua đồ ăn chế biến sẵn, hay đồ ăn đóng gói, việc đọc nhãn thực phẩm để biết thực phẩm đó có bao nhiêu muối là một thực hành tốt và được khuyến nghị với người bị tăng huyết áp. Ngoài ra, người tăng huyết áp cũng nên hạn chế các loại phủ tạng động vật như tim, lòng, óc, mỡ động vật, bơ là những thực phẩm nhiều mỡ có thể gây tăng cân, không tốt cho người tăng huyết áp; hơn nữa còn nhiều các chất béo không tốt như cholesterol hay chất béo bão hòa, là tác nhân chính gây thuyên tắc mạch. Việc uống rượu bia nên hạn chế ở mức tối đa 1 lít bia hay 360ml rượu vang hoặc 90ml rượu mạnh một ngày đối với nam và dưới 700ml bia hoặc 240ml rượu vang hoặc 60ml rượu mạnh đối với nữ.
Caffein có trong cà phê, nước tăng lực hoặc sô-cô-la nên hạn chế dưới 300mg/ngày. Ví dụ 250ml nước tăng lực có 80mg cafein; 1 lon cà phê đóng sẵn có 90mg cafein, 100g socola có 43mg cafein… Không sử dụng các chất kích thích này khi huyết áp đang cao hoặc chưa được kiểm soát.
Ngược lại, người tăng huyết áp nên ăn các loại thực phẩm tự nhiên, hoặc gần với dạng nguyên bản nhất của chúng ví dụ như gạo, ngô, khoai, sắn, khoai củ các loại, đậu đỗ và rau quả tươi các loại. Các thực phẩm nhiều acid béo như Omega 3, 6, 9 như cá, hải sản các loại nên được ăn 3-4 lần một tuần. Trên thế giới có một loại chế độ ăn gọi là chế độ ăn DASH được thiết kế riêng cho người tăng huyết áp đã được chứng minh làm giảm 8-14mmHg của huyết áp. Chế độ này thiết kế những bữa ăn nhiều rau quả (giàu kali, magie...), sản phẩm từ sữa ít béo (giàu canxi), tăng khẩu phần cá, thịt gia cầm, các loại hạt và thực phẩm nguyên hạt (giàu canxi, magie...), giảm thiểu hấp thụ chất béo bão hòa, chất béo chuyển hóa và cholesterol, hạn chế muối, đồ ngọt, thức uống có ga và các loại thịt đỏ. Ở Việt Nam có một số loại thực phẩm có tác dụng an thần, hạ huyết áp, lợi tiểu như lá vông, hạt sen, ngó sen cũng có thể tốt đối với người tăng huyết áp.
Khi đã biết được nguyên tắc ăn uống cơ bản cho người tăng huyết áp như trên, từng người có thể so sánh với chế độ ăn hiện tại của mình để xem mình cần điều chỉnh gì, sau đó, việc điều chỉnh chế độ ăn cần được tiến hành từ từ, dần dần từng ngày để đảm bảo việc thay đổi thói quen ăn uống theo hướng có lợi được tiến hành lâu dài, có thể duy trì lâu dài.
Ngoài việc điều chỉnh chế độ ăn, việc tập luyện, vận động thường xuyên, có lối sống năng động cũng được coi là một biện pháp kiểm soát huyết áp không dùng thuốc ở người tăng huyết áp. Vận động thể lực giúp điều hòa lượng cholesterol máu, kiềm chế xơ vữa động mạch, làm giãn và tăng tính đàn hồi của các mạch máu, giảm sức cản máu ngoại biên, từ đó giảm huyết áp.
Người tăng huyết áp không nên vận động khi huyết áp đang cao hay không kiểm soát được. Và đặc biệt tránh việc vận động quá sức (thể hiện bằng việc không thể thở hay nói chuyện trong khi tập mà phải ngừng lại để thở hay nói chuyện) ở người tăng huyết áp, điều này có thể gây ra các biến chứng của huyết áp cao đã đề cập ở phần trước. Việc tập luyện hợp lý với người tăng huyết áp có thể giúp giảm 4-9mmHg tuy nhiên, với việc vận động phù hợp, liên tục khoảng 2 - 3 tháng huyết áp mới bắt đầu hạ xuống. Loại vận động nên chọn phù hợp với từng độ tuổi, giới, đặc điểm sinh hoạt và đặc biệt là tình trạng huyết áp của từng người. Người tăng huyết áp ở mức trên 160/90 mmHg nên uống thuốc hạ áp trước 15-30 phút trước khi vận động thể lực.
Tổng thời gian thực hiện các loại hoạt động thể lực nên ở mức 30-60 phút/ngày, kết hợp các bài tập cơ tĩnh và động và ở các mức độ gắng sức khác nhau
Ngoài điều chỉnh chế độ ăn và vận động, việc ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào kể cả các dạng khác như hút thuốc lá điện tử, nhai, ăn… cũng như tránh xa môi trường có khói thuốc cũng có tác dụng kiểm soát huyết áp. Hạn chế uống rượu, bia các loại và duy trì cân nặng phù hợp theo khuyến nghị của bác sỹ.
Người bị tăng huyết áp nên tìm hiểu về bệnh để tự biết cách thực hiện các thói quen tốt trong cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh đó, luôn giữ trạng thái tâm lý ổn định, cân bằng, tránh bị các kích động hoăc sang chấn gây ảnh hưởng đến tâm lý, là những yếu tố ảnh hưởng rất nhanh và rất lớn đến huyết áp. Sự ủng hộ và hỗ trợ của người thân, bạn bè và đồng nghiệp với người bị tăng huyết áp trong việc điều chỉnh lối sống cũng là yếu tố góp phần giúp người tăng huyết áp kiểm soát được huyết áp của họ và có cuộc sống có chất lượng tốt hơn.
Nếu bị tăng huyết áp tôi phải chú ý gì không?
Như đã nói ở trên, nguyên tắc ăn uống đầu tiên của người tăng huyết áp là ăn nhạt, hạn chế sử dụng muối, các loại gia vị hoặc thực phẩm chứa nhiều muối các loại trong suốt quá trình chế biến, nấu nướng và ăn uống. Nên chế biến các món ăn nhạt tới mức có thể chấp nhận được và giảm dần lượng muối (tới mục tiêu: < 4g muối/ngày với người đã xác đinh có tăng huyết áp). Hạn chế các món dạng kho, rim, quay… Lượng muối tiêu thụ hàng ngày có 81% đến từ các gia vị cho vào trong quá trình nấu nướng và chế biến món ăn; 11,6% đến từ các thực phẩm chế biến sẵn và 7,4% đến từ các thực phẩm tự nhiên. Do đó, quá trình chế biến nên hạn chế tất cả các loại gia vị (muối. bột canh, nước mắm. mì chính,...), Hạn chế chấm đồ ăn (tương ớt, xì dầu, nước sốt...) và hạn chế sử dụng các loại thực phẩm đóng hộp, đóng gói, thực phẩm chế biến sẵn có chứa nhiều muối. Bỏ hoặc ăn ở mức rất ít các loại thức ăn muối mặn như cà muối, dưa muối, mắm tôm, mắm tép, thức ăn đóng hộp…
Người tăng huyết áp cần thường xuyên kiểm tra huyết áp bằng máy đo tại nhà để theo dõi tiến triển của việc kiểm soát huyết áp. Việc biết được số đo HA của mình là rất quan trọng trong quá trình dự phòng và điều trị THA.
Duy trì một cuộc sống cân bằng, tránh lo âu, căng thẳng; cần có thời gian thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý, tránh bị lạnh đột ngột và tránh xa các tác nhân gây stress. Đây đều là các tác nhân khiến việc kiểm soát HA trở nên khó khăn, thậm chí làm tình trạng tăng HA trở nên trầm trọng hơn
Huyết áp thường không thể khỏi hoàn toàn, nên quá trình điều trị là lâu dài và có thể kéo dài đến suốt đời. Do vậy cần phải kiên trì và tuân thủ chế độ điều trị. Việc thay đổi các thói quen có thể gây khó khăn ban đầu: ví dụ ăn nhạt hơn sẽ thấy kém ngon miệng, sinh hoạt điều độ và lành mạnh có thể cản trở một vài thói quen và sở thích thông thường, việc thể tập thể dục hàng ngày là khó thực hiện ... Nhưng những thay đổi này là hoàn toàn có thể thích nghi được nếu kiên trì và thực hiện dần dần từng bước một và có thêm sự hỗ trợ của những người thân xung quanh. Cần hiểu rằng các thay đổi này không chỉ nhằm kiểm soát huyết áp mà còn đem lại rất nhiều lợi ích sức khỏe, khiến cơ thể khỏe mạnh hơn và có tác dụng dự phòng cũng như điều trị nhiều bệnh phối hợp khác nếu có.
Các dấu hiệu trở nặng của tăng huyết áp là gì?
Ở nhiều người, huyết áp có thể tăng lên mà không có bất kỳ triệu chứng nào. Có nhiều bệnh nhân đến bệnh viện khám huyết áp tối đa đã lên mức 190 mmHg, là mức tăng huyết áp cấp cứu ở người bình thường, nhưng họ lại hòan toàn không có biểu hiện gì. Đó là lý do tại sao cao huyết áp được gọi là “kẻ giết người thầm lặng”. Ở một số người, cao huyết áp nặng có thể dẫn đến chảy máu cam, đau đầu hoặc chóng mặt. Một số dấu hiệu khác cảnh báo có biến cố tim mạch do THA như: Cơn đau thắt ngực hoặc đau tức vùng ngực, hoặc đi kèm 1 số triệu chứng như khó thở, buồn nôn, vã mồ hôi...Các biến chứng của cao huyết áp bao gồm: Suy tim: Suy tim là một tình trạng mà trong đó tim không thể bơm đủ máu để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Điều này làm cho trái tim to ra và trở nên yếu hơn; nhồi máu cơ tim và đột quỵ: Động mạch bị hẹp ở một số nơi trong cơ thể, do bị xơ vữa hoặc kém đàn hồi, từ đó dẫn đến việc hạn chế lưu lượng máu (đặc biệt là cho tim, não, thận và chân). Điều này có thể gây ra một cơn đau tim, đột quỵ, suy thận, hoặc người bệnh phải phẫu thuật cắt bỏ một phần chân; Phình bóc tách động mạch: Một biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra bất cứ nơi nào trong cơ thể của bạn. Khi bị phình bóc tách động mạch, bạn có thể phải đối mặt với tình trạng chảy máu nội bộ và có thể đe dọa tính mạng; Suy thận: Các mạch máu trong thận có thể trở nên hẹp lại và gây suy thận; Bệnh mắt: Các mạch máu trong mắt vỡ hoặc chảy máu. Điều này có thể dẫn đến những thay đổi về thị lực hoặc thậm chí là mù lòa.
Tôi phải làm gì nếu tăng huyết áp của tôi có biểu hiện nặng hơn?
Một người bị tăng huyết áp khi cảm thấy có các dấu hiệu trở nặng cấp cứu thì cần phải ngay lập tức đo huyết áp để kiểm tra huyết áp. Sau đó, xem lại việc tuân thủ điều trị xem có quên uống thuốc không, uống đúng thuốc hay có đúng liều không? trong những trường hợp có cơn tăng huyết áp cấp cứu có thể sử dụng các thuốc hạ áp khẩn cấp dạng xịt hay ngậm dưới lưỡi tại nhà theo chỉ định của bác sỹ điều trị. Sau khoảng 15 phút không thấy tác dụng hạ áp thì cần phải đến ngay cơ sở y tế.
Đối với những người cảm thấy các dấu hiệu tăng huyết áp ngày càng gia tăng, có nghĩa là việc kiểm soát huyết áp chưa hiệu quả, ngoài việc tuân thủ điều trị thì cần xem lại việc điều chỉnh các thói quen sinh hoạt như ăn uống, tập thể dục, nghỉ ngơi, lối sống… có tốt không? Đi khám/ hỏi ý kiến của bác sĩ điều trị ngay khi có các dấu hiệu bất thường để kiểm tra các biến chứng mắc phải và có hướng điều trị phù hợp.
Vì sao tôi lại bị tăng huyết áp?
1. Hầu hết các trường hợp cao huyết áp thường không rõ nguyên nhân. Đây được gọi là Tăng HA nguyên phát (chiếm khoảng 90- 95%) Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ ra rằng có một số yếu tố nguy cơ gây ra tăng huyết áp như: lối sống và chế độ ăn uống thiếu lành mạnh: chế độ ăn quá nhiều muối, hút thuốc, uống rượu bia, thiếu hoạt động thể lực, thừa cân béo phì, thường xuyên căng thẳng thần kinh… Ngoài ra các yếu tố nguy cơ không thay đổi được (tiền sử gia đình, tuổi tác, chủng tộc...).
2. Khoảng 10% các nguyên nhân còn lại có thể gây ra THA, được gọi là cao huyết áp thứ phát như: bệnh thận, bệnh nội tiết, do thuốc hoặc liên quan đến thuốc, nhiễm độc thai nghén, yếu tố tâm thần...
Tôi phải làm gì để góp phần đề phòng tăng huyết áp cho người thân, bạn bè của tôi?
Mỗi người đều nên tự biết được chỉ số huyết áp của mình và người thân bằng việc theo dõi huyết áp tại nhà thường xuyên và kết hợp đi khám định kỳ, theo dõi chỉ số HA nhất là những người trừ 55 tuổi trở lên hoặc người có yếu tố tiền sử có liên quan đến tăng huyết áp hoặc các bệnh nền khác (bệnh tim mạch, tiểu đường, rối loạn lipid máu..). Tạo thói quen sống và sinh hoạt lành mạnh: bao gồm chế độ ăn uống phù hợp lứa tuổi, đầy đủ và cân đối dinh dưỡng, hạn chế rượu, bia, các chất kích thích và thuốc lá/ thuốc lào, hạn chế ăn mặn và tăng cường các loại rau xanh quả chín; Tập luyện thể dục thường xuyên (đi bộ, đạp xe hoặc các bài tập thể thao phù hợp, tối thiểu 30p mỗi ngày,...) và giữ cân nặng ở mức phù hợp; sinh hoạt và nghỉ ngơi điều độ, thư giãn và điều chỉnh cuộc sống cân bằng để tránh các căng thẳng/stress; Quan tâm tới người cao tuổi trong gia đình, hoặc phụ nữ có thai. chú ý các thay đổi sức khỏe có liên quan tới huyết áp để kịp thời đưa đi khám và điều trị (VD: các cơn đau ngực đột ngột hoặc thoáng qua, tình trạng khó thở hoặc hoa mắt, chóng mặt...).
Tuân thủ và kiên trì trong điều trị nếu đã có tình trạng THA, nhằm kiểm soát huyết áp và giảm thiểu tối đa nguy cơ các biến chứng.
Tuyên truyền cho người thân, gia đình hiểu thêm về THA để cùng xây dựng thói quen sinh hoạt/lối sống khoa học, lành mạnh.